Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

LỜI CẦU XIN CHO ĐƯỢC ĐỨC KHÔN NGOAN (Kn 9, 1 -18)

 Lời ocầu xin cho được Đức Khôn Ngoan h

9

1“Lạy Thượng Đế của bậc tổ tiên i,

lạy Đức Chúa từ bi lân tuất,

Chúa dùng lời Chúa mà otác thành vạn vật,

2dùng sự khôn ngoan Chúa mà cấu tạo con người,

để con người olàm chủ mọi loài Chúa dựng nên,

3và sống sao cho thánh thiện công chính

mà chỉ huy cả vũ trụ này,

cùng được một tâm hồn ngay thẳng

mà phân biệt phải trái.

4Xin rộng ban cho con

Đức Khôn Ngoan hằng ongự bên toà Chúa.

Xin đừng đuổi con đi mà chẳng nhận làm con.

5Vì thân này là otôi tớ, con của nữ tỳ Ngài,

số phận mỏng manh, cuộc đời vắn vỏi,

việc pháp đình lề luật, con bé bỏng hiểu chi !

6Quả thế, con người ta dẫu thập toàn đi nữa

mà chẳng có Đức Khôn Ngoan của Ngài,

thì cũng kể bằng không không vậy.

7Nhưng chính Chúa lại tuyển chọn con k

làm vua của dân Ngài,

và làm người xét xử con trai con gái của Ngài.

8Cũng chính Chúa dạy con

xây một ođền thờ trên núi thánh l của Ngài,

và xây một bàn thờ trong thành Ngài ngự,

theo như mẫu lều thánh

Ngài chỉ vẽ cho từ thuở ban đầu.

9Đức Khôn Ngoan ở okề bên Chúa,

obiết những việc Chúa làm,

hiện diện khi Ngài otạo thành vũ trụ,

biết rõ những gì đẹp mắt Chúa và phù hợp với huấn lệnh của Ngài.

10Tự cõi trời thánh thiêng Chúa ngự,

xin gửi Đức Khôn Ngoan Ngài tới,

xin phái đến từ toà cao vinh hiển,

để phù trì và đồng lao cộng khổ với con,

cho con biết điều đẹp ý Chúa.

11Vì Đức Khôn Ngoan ohiểu biết tất cả,

sẽ khôn khéo hướng dẫn con trong việc con làm,

lấy oquyền năng vinh hiển mà gìn giữ con m.

12Nhờ thế, những gì con thực hiện sẽ làm vui lòng Chúa,

và con sẽ công minh xét xử dân Ngài

hầu xứng đáng với ngai vàng của thân phụ con.

13Lạy Chúa, nào có oai biết được ý định của Thiên Chúa ?

Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi ?

14Chúng con vốn là loài phải chết,

tư tưởng không sâu, lý luận không vững.

15Quả vậy, othân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng,

cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống

vì lo nghĩ trăm bề n.

16Những gì thuộc hạ giới,

chúng con đã khó mà hình dung nổi,

những điều vừa otầm tay,

đã phải nhọc công mới khám phá được,

thì những gì thuộc othượng giới,

có ai odò thấu nổi hay chăng ?

17Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời,

chính Ngài chẳng oban Đức Khôn Ngoan,

chẳng gửi thần khí thánh ?

18Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng,

cũng vì thế mà con người được dạy cho biết

những điều ođẹp lòng Ngài,

và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ o.”

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

Homily: THỨ 4 CN II MC

CHÉN CỦA ĐỨC KITÔ


Kính thưa quý cha và anh em rất thân mến!


Nếu hôm nay Đức Giêsu kinh lý cộng đoàn chúng ta và hỏi: “Anh em mong điều gì nhất trong đời tu?”, có lẽ chúng ta sẽ có những câu trả lời khá sôi nổi với đáp án có thể là: nên thánh, sinh hoa trái trong sứ vụ, được Chúa chúc lành... Nhưng nếu Ngài hỏi tiếp: “Anh em có sẵn sàng đi trọn con đường dẫn đến điều ấy không?” thì có lẽ bầu khí sẽ lắng xuống phần nào.


Tin Mừng hôm nay chính là khoảnh khắc lắng xuống ấy.


Theo trình thuật của Thánh Mát-thêu, Đức Giêsu đang tiến lên Giêrusalem. Ngài biết rõ điều đang chờ đợi: bị nộp, bị kết án, bị đóng đinh. Đây không phải là số phận bất ngờ, nhưng là con đường vâng phục tự do để hoàn tất ý định cứu độ của Chúa Cha. Thế nhưng, ngay sau lời loan báo Thương Khó, mẹ của hai môn đệ Gia-cô-bê và Gio-an lại xin cho các ông được ngồi bên hữu và bên tả trong vinh quang.
Sự tương phản ấy làm lộ rõ một cám dỗ rất con người: khi Thiên Chúa mặc khải tình yêu tự hiến, chúng ta lại nghĩ đến vị thế và thành tựu. Khi Đức Kitô nói về thập giá, chúng ta dễ nghĩ đến mình sẽ được lợi lộc gì.


Chính lúc ấy, Ngài đặt câu hỏi trọng tâm:


Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không?


Đó không chỉ là câu hỏi cho hai tông đồ trẻ năm xưa. Đó là câu hỏi cho mỗi chúng ta hôm nay, những người đã chọn theo Chúa trong linh đạo của Thánh Đa Minh.


Quý cha và anh em rất thân mến!
Chén trong Kinh Thánh, đặc biệt trong Cựu Ước mở ra rất nhiều ý nghĩa, và điều này tác giả thánh Vịnh 116 viết rằng:


13 Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh ĐỨC CHÚA.
14 Lời khấn nguyền với CHÚA, tôi xin giữ trọn,
trước toàn thể dân Người.
15 Đối với CHÚA thật là đắt giá
cái chết của những ai trung hiếu với Người.


Chén tượng trưng cho đau khổ và cái chết, đó là “vị đắng” trong Cựu Ước. Khi CGS đến, Ngài không cất khỏi vị đắng đó, chính Đức Giêsu cũng đã run rẩy trước chén ấy khi cầu nguyện trong vườn Cây Dầu: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này” (Mt 26,39).  Nhưng cũng chính Ngài, trong Bữa Tiệc Ly, đã cầm lấy chén và trao cho các môn đệ, gọi đó là máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. Như thế, cùng một “chén”, nhưng không còn chỉ là biểu tượng của đau khổ; nó trở thành dấu chỉ của tình yêu tự hiến.
Như vậy, chén đau khổ đã trở thành chén cứu độ. Không phải vì vị đắng biến mất, nhưng vì tình yêu vâng phục đã làm biến đổi ý nghĩa của nó. Đức Giêsu không uống chén vì thích đau khổ. Ngài uống vì yêu. Và chính tình yêu ấy làm cho thập giá trở thành con đường sự sống.


Khi ĐGS đặt câu hỏi cho Gia-cô-bê và Gioan: Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không?


Hai anh em đã mạnh dạn thưa: “Chúng con uống nổi.” Dù có thể lời đáp ấy còn pha chút bồng bột, nhưng cuối cùng, họ đã uống với 2 cách thế khác nhau mà Sách CVTĐ đã thuật lại:


Thánh Gia-cô-bê đã uống chén bằng cuộc tử đạo tại Giêrusalem khoảng năm 44. Được xem là vị tử đạo đầu tiên trong 12 Tông đồ. Một nhát gươm kết thúc đời ngài, nhưng mở ra sự trung tín trọn vẹn.
Còn Gioan tuy không chết vì gươm, nhưng Ngài sống, và sống rất lâu, theo truyền thống thì Ngài sống khoảng hơn 100 tuổi, và vào thời đó và thời này thì đây là một độ tuổi rất thọ. Tuy nhiên, “sống thọ” và “sống thánh” là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Sống thọ thì cũng có nhiều người có thể làm được, nhưng để sống thánh thì hẳn nhiên không phải ai cũng thành công.


Gioan đã lựa chọn phương án thứ 2 là: sống thánh. Tuy nhiên, để sống thánh, thì Gioan phải chiến đấu bền bỉ với thời gian, cô đơn và thử thách. Uống chén không chỉ là chết một lần; đôi khi là sống trung thành từng ngày suốt cả đời. Cuộc chiến đấu bền bỉ đó cũng chính là một vị đắng của chiếc chén mà ông đã uống. 


Quý cha và anh em rất thân mến!
Mỗi chúng ta trong ơn gọi là một Tu sĩ Đa Minh, cũng mang trong mình những “cái chén” rất riêng. Chiếc chén ấy, lắm khi nằm ngay trong chính nhịp sống hằng ngày: trung thành với giờ kinh khi tâm hồn khô khan, kiên trì bên bàn học khi trí óc mỏi mệt, quảng đại trong đời sống chung khi khác biệt làm ta bị thử thách, khiêm tốn trong sứ vụ khi kết quả không như mong đợi. Đó không phải là những hy sinh lớn lao bên ngoài, nhưng là một cuộc tử đạo âm thầm của cái tôi.


Không dừng lại ở đó, Lời Chúa hôm nay còn đi xa hơn thế nữa, bởi nếu chỉ dừng lại ở hình ảnh “chiếc chén” như một đau khổ phải chịu, chúng ta vẫn chưa chạm tới trung tâm của bài Tin Mừng. Sau khi hai anh em xin chỗ vinh quang và sau khi các môn đệ khác tỏ ra bất bình, Đức Giêsu đã mặc khải một nguyên tắc hoàn toàn mới về sự lớn lao. Ai muốn làm lớn phải trở nên người phục vụ; ai muốn làm đầu phải trở nên đầy tớ. Và rồi Ngài kết luận bằng lời làm đảo lộn mọi tham vọng: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). 


Như vậy, uống chén của Đức Kitô không chỉ là chấp nhận đau khổ cho riêng mình, nhưng là bước vào chính lối sống của Ngài: sống cho người khác, hiến mình vì người khác, đặt lợi ích của anh em lên trên vị trí của bản thân. Chiếc chén Ngài trao không phải là biểu tượng của thất bại, nhưng là con đường của tình yêu phục vụ đến cùng.


Ước chi, mỗi lần Chúa hỏi: "Con có khả năng uống chén mà Thầy sắp uống không?", Bản thân con cũng như mỗi người chúng ta đây cũng có thể cùng với Gio-an và Gia-cô-bê thưa lại với Chúa: "Thưa Thầy, chúng con có thể - nhưng không phải vì chúng con mạnh mẽ, mà vì chúng con muốn học sống như chính Chúa Giê-su.



Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

CÁI THẦM LẶNG CỦA NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM...



Cuối năm, thành phố hình như bận rộn hơn… Dưới ánh đèn đường vàng vọt, dòng người hối hả ngược xuôi, ai cũng mang theo mình một dáng vẻ tất bật: người chở những chậu cúc rực rỡ, người tay xách nách mang những túi quà tết. Trong cái không khí sục sôi ấy, tôi thấy mình như một nốt trầm lệch nhịp…

Dưới ánh đèn nơi căn phòng vắng, bài vở vẫn chồng chất. Những con chữ, những tiểu luận cần hoàn thành dường như mỗi lúc lại một dài hơn… chao ôi! nó thật đối lập với tiếng còi xe bên ngoài mỗi lúc lại thêm vội vã… Bạn bè đồng môn mới hôm qua còn cùng nhau lên giảng đường, giờ đây đã lần lượt gửi ảnh check-in ở quê nhà, bên mâm cơm gia đình hay mái hiên đầy nắng.

Cái cảm giác "về muộn" thật lạ kỳ. Tôi đã đặt sẵn vé, nhưng chuyến xe của tôi lại là chuyến xe muộn nhất. Nó giống như việc bạn đang đứng ở ga tàu, nhìn từng đoàn tàu rời đi, còn mình vẫn phải ở lại để hoàn thành nốt phần việc dở dang…

Cuối năm, tu viện vốn dĩ bình yên nay lại càng trở nên tĩnh lặng khi các anh em đồng môn đã lần lượt lên đường trở về quê hương. Tôi nhận ra mình ở lại, không chỉ với xấp bài vở còn dang dở, mà còn ở lại với "gia đình lớn" của mình, nơi có các Cha cao niên vẫn chọn giữ tiếp những giờ kinh khi các thầy đã về quê hết.

Nhìn thành phố ngoài kia đang hối hả, nhìn các Cha cố ung dung tự tại, tôi thấy mình đang đứng giữa hai dòng chảy: sự trẻ trung đầy thao thức và sự kinh nghiệm đầy an nhiên. Chính lúc ấy, tôi chợt nhận ra: Đời tu thật đẹp. Đẹp ở sự trung kiên của các bậc cha anh, và đẹp ở sự ơn gọi của chính mình trong chính cái thầm lặng của những ngày cuối năm.



Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Homily: Thứ 2, CN I TN

 KHI THIÊN CHÚA BẮT ĐẦU
TỪ NHỮNG ĐIỀU CHƯA SINH HOA TRÁI

(Thứ Hai Tuần I Mùa Thường Niên – 1 Sm 1,1-8; Mc 1,14-20)

Kính thưa cộng đoàn,

Ngày đầu tiên của Tuần thứ nhất Mùa Thường Niên hôm nay không có gì gây ấn tượng mạnh cả. Không có phép lạ, không có đám đông, không có những lời giảng dài và hùng hồn. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở ra một cách khá… lặng lẽ: một người phụ nữ son sẻ khóc trong âm thầm; một ngôn sứ bị tống ngục; và vài người đàn ông đang mải vá lưới bên bờ hồ. Thế nhưng chính trong bối cảnh tưởng chừng tầm thường ấy, Đức Giêsu lại công bố một lời mang tính quyết định cho toàn bộ lịch sử cứu độ: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.

Lời tuyên bố này không được thốt ra giữa khải hoàn, nhưng giữa những đổ vỡ. Không phải khi mọi sự đã sẵn sàng theo logic con người, mà khi lịch sử dường như đang rơi vào bế tắc. Chính điều đó cho thấy: Thiên Chúa có một cách bắt đầu rất khác với cách chúng ta thường mong đợi.

Trong bài đọc I đưa chúng ta gặp bà An-na, một nhân vật mà nếu đọc lướt qua, ta dễ xem như phần mở đầu buồn cho câu chuyện trong sách Sa-mu-en. Nhưng nếu đọc chậm, ta sẽ nhận ra nơi An-na một mặc khải sâu sắc về cách Thiên Chúa hành động. Bà không có con, và trong bối cảnh văn hóa Cựu Ước, điều đó không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là một vết thương xã hội và tôn giáo. Đáng chú ý hơn, sách thánh không nói rằng An-na phạm lỗi hay thiếu lòng tin, mà lại ghi một câu rất khó nghe: “Đức Chúa đã làm cho bà không sinh sản được”.

Câu ấy buộc người đọc phải dừng lại. Nó phá vỡ não trạng đơn giản cho rằng cứ trung thành là phải thấy kết quả ngay. Bà An-na không bị phạt, nhưng được đưa vào một giai đoạn trống rỗng kéo dài, nơi mà mọi bảo đảm quen thuộc đều biến mất. Bà không phản kháng, cũng không rút lui khỏi đời sống tôn giáo. Bà vẫn lên Đền Thờ, vẫn sống, vẫn chịu đựng, và vẫn để nỗi đau của mình ở lại trước mặt Thiên Chúa. 

Đối với đời sống tu trì, đặc biệt là đời sống Đa Minh vốn gắn liền với học hành, giảng dạy và sứ vụ trí thức, hình ảnh bà An-na không hề xa lạ. Có những giai đoạn người tu sĩ cảm thấy đời sống mình “không sinh hoa trái”: học hành khô khan, cầu nguyện nặng nề, sứ vụ không được đón nhận, hay sự trung thành kéo dài mà không thấy kết quả rõ rệt. Bài đọc hôm nay không đưa ra một lời giải thích dễ dãi, nhưng âm thầm khẳng định rằng: có những lúc Thiên Chúa cho phép sự trống rỗng, không phải để hủy hoại, mà để chuẩn bị.

Chính trong bối cảnh ấy, Tin Mừng theo thánh Máccô vang lên với một chi tiết hết sức đặc biệt: “Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến rao giảng Tin Mừng”. Tin Mừng không bắt đầu khi mọi sự hanh thông, nhưng khi một vị ngôn sứ trung thành bị loại bỏ. Và chính lúc đó, Đức Giêsu công bố rằng thời kỳ đã mãn. “Thời kỳ” ở đây không phải là thời gian theo đồng hồ, mà là kairos – thời điểm Thiên Chúa quyết định hành động. Lịch sử có thể đang bế tắc, nhưng kế hoạch cứu độ thì không bao giờ lạc hướng.

Lời mời gọi đầu tiên của Đức Giêsu không phải là một hệ thống giáo huấn phức tạp, mà là một lời kêu gọi rất căn bản: Sám hối và tin. Sám hối là thay đổi cách nhìn, còn tin là dám đặt cuộc đời mình vào một thực tại lớn hơn những tính toán cá nhân. Và ngay sau đó, Đức Giêsu gọi các môn đệ khi họ đang làm những công việc hết sức bình thường. Họ không ở trong hội đường, cũng không ở trong bầu khí linh thiêng đặc biệt, mà đang bận rộn với lưới rách, thuyền cũ và kế sinh nhai.

Điều đáng kinh ngạc là họ đã bỏ lại tất cả gần như ngay lập tức. Không phải vì họ đã hiểu hết, nhưng vì họ đã tin. Ơn gọi, theo Tin Mừng hôm nay, không phải là phần thưởng cho người đã sẵn sàng, mà là lời mời dành cho người dám bước ra khỏi những bảo đảm hợp lý nhất của mình. 

Đối với mỗi anh em Đa Minh, đó là một câu hỏi âm thầm nhưng sắc bén: ta theo Đức Ki-tô vì Tin Mừng, hay vì một cấu trúc ổn định mà đời tu mang lại? Ta sẵn sàng để Ngài làm cho mình trở thành “những người lưới người”, hay chỉ muốn tiếp tục vá lại những tấm lưới quen thuộc của thành công, uy tín và sự an toàn?

Phụng vụ hôm nay, khi đặt bà An-na bên cạnh các môn đệ đầu tiên, cho thấy một logic xuyên suốt của Thiên Chúa. Ngài bắt đầu từ những gì mong manh, từ những gì chưa hoàn chỉnh, từ những con người không nắm quyền kiểm soát tương lai. Mùa Thường Niên mở ra không bằng cao trào, nhưng bằng lời mời sống trung thành trong những điều rất thường ngày, rất âm thầm, rất dễ bị xem là vô ích.

Có thể hôm nay, mỗi người chúng ta cũng đang ở trong một “thời An-na” của đời mình: vẫn cầu nguyện nhưng chưa thấy kết quả, vẫn học hỏi nhưng chưa hiểu thấu, vẫn trung thành nhưng chưa thấy hoa trái. Nhưng chính lúc ấy, Tin Mừng vẫn vang lên: “Thời kỳ đã mãn”. Không phải vì chúng ta đã hoàn hảo, mà vì Thiên Chúa đã quyết định bước vào lịch sử của chúng ta.

Xin cho chúng ta, những tu sĩ Đa Minh, biết kiên nhẫn với chính mình; biết tin rằng không có giờ cầu nguyện nào bị lãng quên, không có giai đoạn son sẻ nào là vô nghĩa; và biết can đảm bỏ lưới khi Đức Ki-tô đi ngang qua đời ta, ngay cả khi ta còn đang vá dở. Amen.