Hiển thị các bài đăng có nhãn Linh Thao Dòng Tên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Linh Thao Dòng Tên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

Truyện cười dòng Tên 3

 Một tu sĩ Dòng Âugutinô, một tu sĩ Dòng Phan Sinh, một tu sĩ Dòng Tên chết và lên trời. Chúa Giêsu hỏi mỗi người:

Nếu các con có thể về lại trần gian thì các con sẽ nhắn gì cho người khác qua cuộc sống của các con?

Tu sĩ Dòng Âugutinô suy nghĩ một lát và trả lời:

Dạ, dưới trần thế có quá nhiều tội. Nếu con có thể trở về trần thế, con sẽ cố gắng làm sao để người ta không phạm tội nữa.

Tu sĩ Dòng Phan Sinh cũng suy nghĩ và trả lời:

Dạ, dưới trần thế có quá nhiều người nghèo. Nếu con có thể trở về trần thế, con sẽ thuyết phục giáo dân chia sẻ của cải của mình với người nghèo.

Tu sĩ Dòng Tên nhìn Chúa Giêsu và trả lời ngay:

Nếu con có thể trở về trần thế, con sẽ đi kiếm một bác sĩ khác.
________
 Trích sách: Cứ việc giễu các tu sĩ Dòng Tên, Hài hước và thiêng liêng. Nicolaas Sintobin, s.j. Nxb. Fidélité, Namur 2016

Truyện cười Dòng Tên 2

Một sinh viên hỏi một cha Dòng Tên, có đúng là khi nào tu sĩ Dòng Tên cũng trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác không. Vị tu sĩ nhìn chăm anh thanh niên trẻ và trả lời:

– Con muốn nói gì?
_______
Trích sách: Cứ việc giễu các tu sĩ Dòng Tên, Hài hước và thiêng liêng. Nicolaas Sintobin, s.j. Nxb. Fidélité, Namur 2016

Truyện cười Dòng Tên 1

Có một người đến gặp một cha Dòng Phan Sinh xin cha làm tuần cửu nhật để được thắng chiếc xe Lexus trong vụ Xổ số quốc gia.

– Lexus là gì?

– Là một chiếc xe sang trọng.

– Chúa lòng lành! Thánh Phanxicô sẽ nghĩ đây là đi ngược với lời khấn khó nghèo của ngài! Vậy, cha rất tiếc không có chuyện cha cầu nguyện cho việc này được.

Người đó đến tìm một tu sĩ Dòng Đa Minh

– Xin cha giúp con làm tuần cửu nhật để con thắng chiếc xe Lexus.

– Lexus là gì?

– Là một chiếc xe sang trọng.

– Chúa lòng lành! Thánh Tôma Aquinô sẽ cảnh cáo, điều này đi ngược với tình yêu cho của cải ở thế gian này. Vậy, cha rất tiếc không có chuyện cha cầu nguyện cho việc này được.

Thất vọng, cuối cùng người này đến tìm gặp một tu sĩ Dòng Tên:

– Xin cha làm ơn làm phước giúp con làm tuần cửu nhật để con thắng chiếc xe Lexus.

– Tuần cửu nhật là gì? 
________
trích sách: Cứ việc giễu các tu sĩ Dòng Tên, Hài hước và thiêng liêng. Nicolaas Sintobin, s.j. Nxb. Fidélité, Namur 2016

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Cách chọn lựa theo Thánh I-Nhã



LỜI PHI LỘ ĐỂ LÀM VIỆC LỰA CHỌN
ĐIỂM NHẤT: Trong mọi việc lựa chọn tốt, trong mức độ hết sức có thể, con mắt ý hướng chúng ta phải đơn sơ, chỉ nhằm cái (mục đích) vì đó tôi đã được dựng nên, ấy là để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và để cứu rỗi linh hồn tôi; như thế dù tôi lựa chọn cách nào thì việc lựa chọn ấy cũng phải nhằm giúp tôi đạt tới cứu cánh vì đó tôi được tạo dựng, nên không được xếp đặt và khuôn cứu cánh theo phương tiện, nhưng phải xếp đặt và khuôn phương tiện theo cứu cánh.
Chẳng hạn trong thực tế, có nhiều người chọn hôn nhân trước rồi mới chọn việc phụng sự Thiên Chúa trong việc hôn nhân- nhưng thực sự hôn nhân chỉ là phương thế còn việc phụng sự Chúa mới là cứu cánh. Cũng thế có những người khác trước hết muốn được bổng lộc rồi sau mới muốn phụng sự Thiên Chúa qua đó.
Như vậy, những người ấy không đi thẳng tới Thiên Chúa, nhưng muốn Thiên Chúa đến với những quyến luyến lệch lạc của họ, và do đó họ lấy phương tiện làm cứu cánh và cứu cánh làm phương tiện. Như thế cái mà họ phải đặt lên hàng đầu thì họ lại để xuống hàng cuối, vì trước nhất chúng ta phải lấy ý muốn phụng sự Thiên Chúa, tức là cứu cánh, làm mục tiêu, rồi mới đến việc nhận bổng lộc hay kết hôn là phương tiện để tới mục đích, nếu thấy việc đó thích hợp hơn. Như vậy không gì có thể thúc đẩy tôi lấy hoặc bỏ phương thế này hay phương thế kia, ngoại trừ việc phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn tôi đời đời.
LỜI CHỈ DẪN ĐỂ BIẾT PHẢI LỰA CHỌN NHỮNG GÌ
Gồm bốn điểm và một ghi chú.
ĐIỂM NHẤT: Tất cả những điều làm đối tượng cho việc lựa chọn của chúng ta nhất thiết phải là những điều, tự chúng không tốt không xấu, hoặc tốt và phù hợp với ý của Mẹ Thánh là hàng Giáo Phẩm trong Giáo Hội, chứ không phải là những điều xấu hay những điều đi ngược với Giáo Hội.
ĐIỂM HAI: Có những điều mà khi việc lựa chọn đã dứt khoát, thì không thể thay đổi, chẳng hạn như đã chịu chức linh mục hay đã kết hôn v.v.; còn những điều khác thì có thể thay đổi, chẳng hạn như nhận lãnh hay khước từ bổng lộc, nhận lãnh hay vứt bỏ những của cải đời này.
ĐIỂM BA: Với việc lựa chọn không thể đổi, một khi đã làm không được chọn lại nữa vì không thể cởi bỏ được, chẳng hạn như việc hôn nhân, chức linh mục v.v.; chỉ còn một điều, nếu mình đã lựa chọn không phải phép và không đúng trật tự nhưng theo những quyến luyến lệch lạc, thì ăn năn hối hận và cố gắng sống một đời tốt lành trong điều mình đã lựa chọn. Một việc lựa chọn như vậy không cho thấy đó là ơn thiên triệu, vì đó là một cuộc lựa chọn bừa bãi và lệch lạc, như có nhiều người lầm lộn trong việc ấy, lấy sự lựa chọn lệch lạc hay xấu xa làm ơn thiên trịêu, vì mọi ơn thiên triệu bao giờ cũng trong sáng và rõ ràng, không pha ý xác thịt hay một quyến luyến lệch lạc nào khác.
ĐIỂM BỐN: Về những điều lựa chọn có thể thay đổi, nếu người nào đã lựa chọn phải phép và đúng trật tự, không theo xác thịt hay thế gian, thì không phải lựa chọn lần nữa, nhưng chỉ phải hoàn thiện trong sự lựa chọn ấy tùy sức có thể.
GHI CHÚ: Nên ghi chú rằng, nếu một việc lựa chọn có thể đổi mà đã không làm cho thành thật và đúng trật tự, thì làm lại cho đúng phép vào lúc này là điều có ích lợi cho những ai ao ước sinh hoa trái đáng kể và rất đẹp lòng Thiên Chúa, Chúa chúng ta.
VỀ BA THỜI KỲ MÀ MỖI THỜI KỲ ĐỀU THÍCH HỢP ĐỂ LÀM VIỆC LỰA CHỌN TỐT LÀNH
THỜI KỲ THỨ NHẤT: Là khi Thiên Chúa Chúa chúng ta đánh động và lôi kéo ý muốn đến nỗi linh hồn trung tín tuân theo điều đã được chỉ vạch không hồ nghi mà cũng không thể hổ nghi; thánh Phaolôâ và thánh Matthêu đã làm như thế khi các Ngài theo Đức Kitô Chúa chúng ta.
THỜI KỲ THỨ HAI: Khi nhận được đủ ánh sáng và sự hiểu biết bởi kinh nghịêm những an ủi và sầu khổ, cũng như bởi kinh nghịêm phân biệt thần tốt và thần xấu.
THỜI KỲ THỨ BA: Thời kỳ thứ ba thì trầm lặng; trước hết suy xét con người sinh ra để làm gì, tức là để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và để cứu linh hồn mình. Và với lòng ước ao sự ấy, chọn làm phương thế, một cuộc sống hay một bậc trong phạm vi Giáo Hội chấp nhận, để gặp được ở đó sự giúp đỡ cho việc phụng sự Chúa và cứu rỗi linh hồn mình.
Tôi nói, thời kỳ trầm lặng, nghĩa là khi linh hồn không bị xao động bởi thần tốt hay thần xấu, và sử dụng những khả năng tự nhiên của mình cách tự do và yên tĩnh.
Nếu cuộc lựa chọn không làm được trong thời kỳ thứ nhất hay thứ hai, thì sau đây là hai cách để lựa chọn theo thời kỳ thứ ba.
CÁCH THỨ NHẤT ĐỂ LÀM VIỆC LỰA CHỌN TỐT LÀNH
Gồm sáu điểm:
ĐIỂM NHẤT: Là đặt mình trước những điều tôi toan lựa chọn, chẳng hạn một chức vụ hay bổng lộc để nhận hay bỏ, hoặc bất cứ điều gì khác mà sự lựa chọn có thể thay đổi được.
ĐIỂM HAI: Tôi phải nhằm đến cứu cánh vì đó tôi đã được dựng nên, là ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn tôi; lại nữa tôi phải giữ bình tâm, không có một quyến luyến lệch lạc nào, đến nỗi không hướng chiều và cũng không tha thiết để nhận điều đã được đề nghị hơn là từ chối hoặc từ chối hơn là nhận; nhưng tôi phải giữ mình ở vị thế cân bằng như cái kim của một bàn cân; chỉ nghiêng theo đàng nào tôi “cảm thấy” hợp hơn cho vinh quang và sự ca ngợi Chúa cùng việc cứu rỗi linh hồn tôi.
ĐIỂM BA: Xin Thiên Chúa, Chúa chúng ta đoái thương đánh động ý muốn tôi và đặt vào linh hồn tôi điều tôi phải làm đối với việc đã được đề nghị, để ngợi khen và làm vinh danh Chúa hơn, bằng cách dùng trí khôn suy xét đúng đắn và trung thành, và lựa chọn hợp với ý cực thánh và nhân lành của Người.
ĐIỂM BỐN: Suy xét xem việc được chức vụ hay bổng lộc nói đây sẽ sinh thuận tiện và ích lợi cho tôi bao nhiêu, duy để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn tôi; và ngược lại cũng theo cách thức ấy, suy xét những bất tiện và nguy hiểm nếu được điều ấy. Trong phần thứ hai cũng làm như vậy, nghĩa là xét những thuận tiện và ích lợi bởi việc không được điều ấy, và ngược lại cũng xét những bất tiện và nguy hiểm nếu không có điều ấy.
ĐIỂM NĂM: Sau khi đã suy nghĩ và cân nhắc vấn đề dưới mọi khiá cạnh như thế, coi xem lý trí nghiêng về phiá nào, và phải lựa chọn theo sự thúc đẩy mạnh nhất của lý trí chứ không theo sự thúc đẩy nào của tình cảm.
ĐIỂM SÁU: Khi đã làm xong việc lựa chọn hay quyết định ấy, người đã lựa chọn phải mau mắn đi cầu nguyện trước mặt Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và dâng cho Ngài cuộc lựa chọn đó, để Chúa Chí Tôn đoái nhận và xác chuẩn cho, nếu điều ấy giúp phụng sự và ngợi khen Ngài hơn.
CÁCH THỨ HAI ĐỂ LÀM VIỆC LỰA CHỌN TỐT LÀNH
Gồm bốn quy tắc và một ghi chú.
QUY TẮC I: Lòng yêu mến đánh động và làm tôi lựa chọn điều nào đó, phải từ trên mà xuống, bởi lòng kính mến Thiên Chúa, như thế người lựa chọn trước hết phải cảm thấy trong lòng rằng tình yêu mến nhiều hay ít đối với điều họ chọn, hoàn toàn hướng về Đấng Tạo Hóa và Chúa họ.
QUY TẮC II: Tưởng tượng ra một người mà tôi chưa bao giờ gặp và cũng chẳng quen biết, với lòng ước ao cho họ được hoàn thiện trọn vẹn, suy xét điều tôi sẽ khuyên họ làm và lựa chọn để sáng danh Thiên Chúa, Chúa chúng ta hơn cả và làm cho linh hồn họ nên trọn lành hơn; và tôi cũng làm như vậy, tuân theo quy tắc tôi đặt cho người khác.
QUY TẮC III: Xét coi, ví như tôi đang ở vào giờ chết, thì thái độ và quy tắc mà lúc ấy tôi muốn mình tuân theo trong công việc lựa chọn hiện bây giờ như thế nào, và rắp tâm quyết định hoàn toàn tuân theo quy tắc đó.
QUY TẮC IV: Nhìn ngắm và suy xét tình trạng của tôi trong ngày phán xét. Nghĩ xem lúc ấy tôi muốn mình đã định đoạt về công việc hiện tại như thế nào; quy tắc mà lúc ấy tôi muốn mình đã tuân theo, tôi nhận lấy ngay bây giờ, để lúc ấy tôi được hạnh phúc và mừng vui trọn vẹn.
GHI CHÚ: Một khi đã nhận lấy những quy tắc trên đây để được cứu rỗi và an nghỉ đời đời, tôi sẽ làm việc lựa chọn và dâng cho Thiên Chúa, Chúa chúng ta, theo như điểm thứ sáu trong cách lựa chọn thứ nhất.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Tập Nhận Định Ơn Gọi

Recluses_missionaires
Một nữ tu sau khi linh thao để chuẩn bị khấn trọn đời thì bối rối muốn chuyển ơn gọi, chị đang ở trong một dòng hoạt động tông đồ. Nay chị muốn chuyển sang một dòng chiêm niệm. Chị cần nhận định để thấy rõ ý Chúa.
I.   BA ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN.
  • Chị có khao khát và ước muốn thi hành ý Chúa không?
  • Cởi mở với Chúa: Chị có sẵn sàng mở lòng ra với Chúa, và bình tâm để được Chúa Thánh Thần dẫn dắt không?
  • Thân quen với Chúa và hiểu biết về Chúa: Nguyên lí nền tảng của con người là gì? Cứu cánh của chị đặt vào gía trị nào?
II. BA ĐỨC TÍNH NỘI TÂM CƠ BẢN.
  • Khiêm tốn: Cần đặt mình vào trong hoàn cảnh đang nghi ngờ về chính mình có thể sai lầm và rất cần người khác giúp đỡ trong thái độ khiêm tốn, vâng phục, tin yêu và hy vọng.
  • Bác ái: Chị nhận ra đâu là những nguyên nhân khiến cho chị bị day dứt, bối rối và muốn chuyển ơn gọi? Chị thấy mình có bị xung khắc hay bất đồng ý kiến với những người xung quanh khi họ không ủng hộ cho lựa chọn của chị không?
  • Can đảm: Chị có đủ can đảm để thực hiện ý Chúa trong những trường hợp: ý của Chúa không phải là những điều chị thích và chị đang mong muốn? Những đòi hỏi của sự trung thực với lòng mình khi cảm nhận thấy đây là ý Chúa và hoàn toàn xác tín dù chưa dám chắc về mặt khách quan.
III. NHẬN ĐỊNH CÁI GÌ VÀ NHẬN ĐỊNH THẾ NÀO?
A. Nhận định khôn ngoan.
  •  Nhận định để tìm biết ý Chúa muốn chị sống theo ơn gọi nào: hoạt động tông đồ hay chiêm niệm?
    •  Khi đi vào nhận định để tìm ý Chúa phải bỏ hết ý của mình, nghĩa là phải được bình tâm.
Chị có hoàn toàn được tự do, để cho lòng mình được bình tâm, không bị nghiêng chiều về bên nào, và đặt tiêu chuẩn Thiên Chúa trên hết, không chọn điều này hay điều kia, nhưng theo điều nào giúp chị tôn vinh Thiên Chúa, cứu rỗi các linh hồn và vừa với sức của chị? Nghĩa là hoàn toàn để ý Chúa được thực hiện dù phải trả giá.
  •  Đặt mình trước sự hiện diện của Chúa trong mối tương quan của chị với Chúa: Mối tương quan Cha- con. Xin ơn Chúa Thánh Thần giúp chị lựa chọn điều nào Chúa muốn, điều nào làm cho chị nên giống Chúa Ki-tô hơn.
1. Dùng trí khôn để xem xét các lý do thuận và nghịch
a.     Đặt ra hai câu trả lời ngược nhau:
* Chúa muốn chị ở lại dòng và khấn trọn đời.
* Chúa muốn chị chuyển ơn gọi sang dòng chiêm niệm để bắt đầu lại từ đầu.
b. Xem xét lý thuận, lý nghịch cho câu trả lời thứ nhất (Chúa muốn chị ở lại dòng và khấn trọn đời)
     *Bên thuận:
  • Nếu chị ở lại trong dòng và chị sẽ khi khấn trọn đời. Sau khi khấn có thể chị sẽ cộng tác một cách hiệu quả trong việc truyền giáo cho các vùng sâu vùng xa tốt hơn; vì nhận thấy chị là một người có tinh thần cộng tác, nhiệt thành, năng nổ và hội dòng cũng đang rất cần nhân sự như chị để có thể tin tưởng và trao sứ mạng.
  • Sau khi khấn trọn đời, chị có thể dễ dàng được tự do và thoải mái hơn trong mọi quyết định, không còn phải gò bó, lệ thuộc vào chương trình của học viện nữa.
  • Hoặc chị cũng có thể được bầu chọn vào trong các lãnh vực như: ban huấn luyện, ban điều hành, ban hội đồng của hội dòng và như vậy chị có quyền và chỗ đứng do trách nhiệm.
       * Bên nghịch:
  • Chị thấy mình như bị cuốn hút với sứ mạng tông đồ bởi lòng nhiệt thành, sẽ dễ bị lãng quên đời sống cầu nguyện là trọng tâm của đời sống dâng hiến.
  • Hoặc chị ở lại nhưng có thể không được hội dòng tín nhiệm trong sứ mạng tông đồ, cũng như những trách nhiệm trong hội dòng, nhưng trao cho chị những công việc tầm thường mà chị không muốn.
  • Hoặc chị sẽ được trao một sứ mạng mà đối với chị là một thách đố, chị sợ không vượt qua được.
   c. Xem xét lý thuận, lý nghịch cho câu trả lời thứ hai:(chị chuyển ơn gọi sang dòng chiêm niệm)
     * Bên thuận:
  • Nếu chị chuyển ơn gọi sang dòng chiêm niệm, chị sẽ có cơ hội luyện tập sự khiêm tốn, có cơ hội học hỏi, đào sâu, trưởng thành và xác tín hơn về đời sống thánh hiến qua việc huấn luyện trong thời gian nhà tập.
  • Chị cảm thấy được sống thân mật với Chúa hơn qua đời sống chiêm niệm.
  • Chị có thể được dễ dàng hơn đối với đời sống tu trì của mình trong khuôn viên của tu viện, không phải tiếp xúc với môi trường xã hội bên ngoài, chị cảm thấy được an tâm để ở với Chúa cách trọn vẹn hơn.
* Bên nghịch:
  • Nếu chị chuyển ơn gọi, chị sẽ phải làm lại từ đầu: Thời gian tìm hiểu, thời gian thử        thách và chương trình đào tạo.
  • Điều kiện để được nhận vào dòng có thể còn phải xem xét vì chị đã hơi lớn tuổi.
  • Chị có đủ khiêm tốn để đón nhận sự sửa dạy trong khi huấn luyện hay đôi khi sẽ cảm thấy bị mặc cảm…?
2. Dùng lý trí để xét xem nghiêng chiều về bên nào thì quyết định theo bên đó.
( Lưu ý: cứ để cho các câu hỏi, những ý thuận, ý nghịch tự nhiên xuất hiện và cho chúng là thế đó, không do dự, đắn đo).
3. Dùng trí tưởng tượng để biết phải chọn hướng nào.
  • Giả định có người bạn thân đến xin ý kiến về lựa chọn tương tự, với lòng yêu mến và khách quan chị sẽ khuyên người bạn ấy chọn hướng nào thì chị sẽ chọn hướng ấy.
  • Giả như khi chọn xong chị sẽ chết, chị có giữ nguyên lựa chọn ấy không?
  • Đặt mình trong ngày phán xét cho cuộc lựa chọn này, chị sẽ chọn bên nào?
4. Xin xác chuẩn:
  • Xác chuẩn nội tại trong tâm hồn:
    •  Tâm hồn được bình an sâu thẳm, niềm vui thiêng liêng, an ủi Chúa ban trước quyết định    đã chọn
    • Có được sức mạnh nội tâm để quyết chí theo đến cùng lựa chọn ấy.
    • Suốt tiến trình lựa chọn, tư tưởng luôn hướng về sự lành và luôn cảm thấy được bình an.
    • Xác chuẩn ngoại tại (môi trường)
      • Thiên thời: Chúa ban cho chị thời cơ thuận lợi để thực hiện điều đã chọn.
        • Địa lợi:Chúa ban cho chị những hoàn cảnh và phương tiện phù hợp để thực hiện điều ấy.
        • Nhân hoà: Chúa ban cho chị mọi ơn cần thiết để thực hiện điều đã chọn. Chị cảm thấy vừa sức và hạnh phúc với lựa chọn của mình.
( Nếu thấy lòng không yên ổn, buồn sầu lo lắng thì phải làm việc lựa chọn lại, hoặc chuyển sang phương pháp nhận định thiêng liêng)
B. Nhận định thiêng liêng.
   1. Xem các dấu hiệu Chúa ra cho câu trả lời thứ nhất:
  • Chúa muốn chị ở lại dòng.
Thiết lập mối tương quan mật thiết với Chúa và xét các hệ quả của lựa chọn ấy trong chính mối tương quan giữa chị với Chúa.
Quan sát những chuyển động trong tâm hồn của Chị có những ước nguyện nào? Chị cảm thấy được gần Chúa hay xa Chúa hơn? Chị có hài lòng về chính điều chị chọn không? Có thấy được niềm vui, sự bình an hơn hay cảm thấy buồn chán và sầu khổ?
  • Chúa muốn chị chuyển ơn gọi.
Thiết lập mối tương mật thiết với Chúa và xét các hệ quả của lựa chọn ấy trong chính mối tương quan giữa chị với Chúa.
Quan sát những chuyển động trong tâm hồn của Chị có những ước nguyện nào? Chị cảm thấy được gần Chúa hay xa Chúa hơn? Chị có hài lòng về chính điều chị chọn không? Có thấy được niềm vui, sự bình an sâu thẳm hơn hay cảm thấy buồn chán và sầu khổ?
  • Chị cần phân tích và đọc được ngôn ngữ của các thần qua các chuyển động nội tâm để biết chính xác hơn đâu là ý Chúa muốn nơi chị.
    • Nếu chị cảm thấy được gần Chúa hơn, được niềm vui, sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn đó là sự an ủi thiêng liêng. Chị cần nhìn lại để biết an ủi đến từ đâu: thần lành hay thần dữ? Thiên Chúa hay ma quỷ? (LT số 330-336). Chị cũng cần dựa vào tiến trình từ đầu đến cuối nếu chỉ là điều tốt thì đó là thần lành; chiều hướng chuyển biến nội tâm đi từ điều chưa tốt đến điều tốt hơn…
    • Nếu chị cảm thấy xa Chúa hơn, buồn chán hay sầu khổ thì đó là sầu khổ thiêng liêng. Chị cũng cần phân tích để nhận ra sầu khổ do đâu? Tại lỗi của chị hay Chúa muốn để cho chị tỉnh thức hơn? ( LT 318-324).
      • Vì ta chểnh mảng, thiếu sự ngiêm túc trong các việc thiêng liêng.
      • Để thử sức của ta tới đâu ta có thể vươn tới trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa.
      • Để ta học biết và nhận thức rằng: mọi an ủi không phải tự sức cố gắng của ta, mà đều là ân điển của Thiên Chúa. để nhắc nhở ta đừng tự đắc đến trở thành kiêu ngạo, khoe khoang.
      • Không nên thay đổi điều gì đã quyết định trước khi bị sầu khổ (LT. 318).
      • Không nên thay đổi những quyết định nhưng phải cương quyết thay đổi chính mình, làm các việc đạo đức như: cầu nguyện, suy gẫm, xét mình và khổ chế cách nghiêm túc hơn (LT. 319).
  • Chị cần nhìn lại những nguyên nhân khiến cho ta bị sầu khổ:
  • Nếu chị cảm thấy bị sầu khổ cần lưu ý:
  • Không nên thay đổi điều gì đã quyết định trước khi bị sầu khổ (LT. 318).
  • Không nên thay đổi những quyết định nhưng phải cương quyết thay đổi chính mình, làm các việc đạo đức như: cầu nguyện, suy gẫm, xét mình và khổ chế cách nghiêm túc hơn (LT. 319).
 nguồn : Dòng Tên

Quy tắc phân định thần loại






313. QUY TẮC ĐỂ CẢM BIẾT VÀ NHẬN RA PHẦN NÀO
NHỮNG THÚC ĐẨY KHÁC NHAU TRONG LINH HỒN
ĐIỀU TỐT ĐỂ ĐÓN NHẬN VÀ ĐIỀU XẤU ĐỂ LOẠI BỎ
các quy tắc này thích hợp hơn cho tuần thứ nhất
314. QUY TẮC I: Đối với những người sa ngã hết tội trọng này sang tội trọng khác, kẻ thù thường quen bày cho họ những vui thú bề ngoài, xui họ tưởng đến những khoái lạc và vui thú giác quan để dễ cầm giữ và thúc đẩy họ tiến sâu vào thói hư và tội lỗi. Với những người như thế, thần lành dùng phương pháp ngược lại, bằng cách thôi thúc cho lương tâm cắn rứt họ bằng luật tự nhiên của lẽ phải.
315. QUY TẮC II: Nơi những người tiến mạnh trong việc diệt trừ tội lỗi và đang tiến lên hơn mãi trên đường phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, thì lại có phương pháp ngược lại với quy tắc thứ nhất. Vì khi đó, đường lối riêng của thần dữ là cắn rứt, làm buồn phiền và đặt chướng ngại bằng cách gây băn khoăn lo lắng với những lý lẽ giả tạo để người ta khỏi tiến tới, còn cách thức riêng của thần lành là làm cho can đảm và sức mạnh, an ủi, nước mắt, ơn soi giục và an nghỉ, giảm bớt và hủy diệt các trở ngại để cho người ta tiến lên trong đàng lành.
316. QUY TẮC III: Về an ủi thiêng liêng. Gọi là an ủi trong khi linh hồn phát khởi một thúc đẩy nội tâm, khiến linh hồn bừng cháy lửa kính mến Đấng Tạo Hóa và Chúa mình, và do đó, không có thể yêu một tạo vật nào trên mặt đất vì chính tạo vật ấy, nhưng chỉ yêu trong Đấng tạo dựng mọi sự. Đó cũng là trường hợp linh hồn chảy nước mắt giục lòng mến Chúa, hoặc bởi đau đớn vì tội lỗi mình, hay vì sự thương khó của Đức Kitô, Chúa chúng ta, hay vì những điều khác trực tiếp hướng về việc phụng sự và ca ngợi Chúa. Sau cùng, còn gọi là an ủi mọi gia tăng của lòng tin- cậy- mền, cùng mọi niềm vui bề trong mời gọi và lôi kéo (tâm hồn) đến những sự trên trời và phần rỗi riêng của linh hồn mình, làm cho linh hồn được nghỉ ngơi và an bình trong Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.
317. QUY TẮC IV: Sự sầu khổ thiêng liêng. Gọi là sầu khổ tất cả những gì trái ngược với quy tắc thứ ba, như sự tối tăm trong linh hồn, xao xuyến bề trong, thúc đẩy về những gì thấp hèn và phàm tục, lo lắng về những xao động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy, lòng mên; (linh hồn) cảm thấy lười biếng, khô khan, buồn sầu và như bị lìa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa mình. Vì như an ủi trái ngược với sầu khổ thế nào, thì các tư tưởng do an ủi sinh ra cũng trái ngược với các tư tưởng do sầu khổ sinh ra như vậy.
318. QUY TẮC V: Trong thời gian sầu khổ, đừng bao giờ thay đổi, nhưng hãy cương quyết bền vững trong những quyết định và dốc lòng có trước khi bị sầu khổ, hoặc những quyết định đã có khi được an ủi trước đây. Vì cũng như trong khi được an ủi, phần nhiều là thần lành hướng dẫn khuyên nhủ ta thế nào, thì trong cơn sầu khổ, thần dữ cũng (làm) như vậy, mà theo lời khuyên của nó, ta chẳng thể gặp được con đường đưa tới đích.
319. QUY TẮC VI: Trong cơn sầu khổ, nếu như không nên thay đổi những điều đã quyết định, thì lại rất nên cương quyết thay đổi chính mình để chống lại với cơn sầu khổ ấy, chẳng hạn bằng cách chăm chú cầu nguyện, suy gẫm hơn, xét mình nhiều hơn và gia tăng sự hãm mình theo cách nào thích hợp.
320. QUY TẮC VII: Đang gặp sầu khổ, ta hãy nghĩ rằng, để thử luyện ta, Chúa đã để ta với sức tự nhiên chống trả các xao động và cám dỗ của kẻ thù; như vậy ta vẫn có thể chống trả được, nhờ ơn Chúa vẫn giúp đỡ dù ta không cảm thấy rõ ràng. Vì Chúa rút bớt lòng sốt sắng nồng nàn, lòng mến bao la và ân sủng mạnh mẽ nhưng vẫn để lại ân sủng đủ cho sự cứu rỗi đời đời.
321. QUY TẮC VIII: Đang cơn sầu khổ hãy gắng giữ sự nhẫn nại, là sự trái ngược với những xáo trộn xảy đến, và nghĩ rằng, chẳng bao lâu nữa sẽ được an ủi, nếu hết sức chiến đấu với cơn sầu khổ ấy, như đã nói ở quy tắc thứ sáu.
322. QUY TẮC IX: Có ba nguyên do chính khiến ta gặp sầu khổ:
· thứ nhất: vì ta không sốt mến đủ, lười biếng hay chểnh mảng trong các việc thiêng liêng; vậy là vì lỗi ta mà sự an ủi thiêng liêng lìa bỏ ta;
· thứ hai: để thử coi sức ta tới đâu và ta có thể vươn tới đâu trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa, khi không được thưởng công bằng bấy nhiêu an ủi và ân sủng bao la;
· thứ ba: để ta học biết và nhận thức tận thâm tâm rằng, không phải tự ta làm phát sinh hay duy trì được lòng sốt sắng vô ngần, lòng mến mạnh mẽ, nước mắt hoặc ơn an ủi thiêng liêng, mà mọi sự đều là ân điển của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và để ta đừng “làm tổ ở nhà người khác”, và đừng tự đắc đến trở thành kiêu ngạo, khoe khoang, tự gán cho mình lòng sốt sắng hay các hoa trái khác của ơn an ủi thiêng liêng.
323. QUY TẮC X: Khi được ơn an ủi, phải nghĩ tới cách xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến, đồng thời dành lấy sức cho lúc đó.
324. QUY TẮC XI: Ai được an ủi, phải gắng tự khiêm và tự hạ chừng nào có thể, bằng cách nghĩ mình nhỏ hèn biết mấy trong cơn sầu khổ, khi không có ân sủng này. Trái lại, người lâm cơn sầu khổ phải nghĩ mình có thể làm được nhiều nhờ ơn đủ của Chúa trợ giúp, để chống trả mọi kẻ thù, nhờ lấy sức nơi Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.
325. QUY TẮC XII: Kẻ thù xử sự như đàn bà, vì khi ta chống trả thì nó yếu, và khi ta để mặc thì nó mạnh. Quả vậy, đặc tính của đàn bà khi gây gỗ với người đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi người đàn ông thẳng tay chống trả. Trái lại, nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, thì cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của người đàn bà thật không sao lường được.
Cũng vậy, đặc tính của kẻ thù là yếu nhược, khiếp đảm và bỏ chạy với những chước cám dỗ của nó, khi người tập tành trong đàng thiêng liêng thẳng tay chống trả các cám dỗ của nó bằng cách làm điều ngược hẳn lại. Trái lại, nếu người ấy bắt đầu sợ hãi và mất can đảm trước cơn cám dỗ, thì trên mặt đất này, không có vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài người trong việc theo đuổi ý định xấu xa của nó cách dữ dằn chừng ấy.
326. QUY TẮC XIII: Kẻ thù cũng còn sử xự như kẻ si tình lẳng lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị lộ. Quả vậy, một người đàn ông đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một người đứng đắn, thì muốn cho những lời dụ dỗ của hắn được giữ kín; trái lại hắn rất bất mãn khi thiếu nữ mách với cha, thiếu phụ mách với chồng những lời quyến rũ và ý xấu xa của hắn, vì hắn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào thành công được với chuyện hắn đã bắt đầu.
Cũng vậy khi kẻ thù của bản tính loài người đưa những sự xảo trá và xúi giục của nó vào linh hồn ngay lành, thì mong muốn những điều đó được tiếp nhận và giữ kín. Nhưng khi linh hồn tỏ ra với cha giải tội tốt hay một người đạo đức nào khác am tường những dối trá và sự hiểm độc của nó, thì nó rất bất mãn, vì nó kết luận rằng không thể đạt tới điều xấu xa mà nó đã bắt đầu, vì sự dối trá rõ rệt của nó đã bị phanh phui.
327. QUY TẮC XIV: Kẻ thù lại còn xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những gì nó muốn. Vì như một vị chỉ huy cầm đầu đội quân, sau khi đặt bản doanh trại và xem xét lực lượng hoặc cách bố trí của một thành trì, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất; thì cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người lượn quanh để dò xét những nhân đức đối thần, các nhân đức trụ và các nhân đức luân lý khác của ta, và điểm nào nó thấy ta yếu nhất và dễ nguy nhất cho phần rỗi đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó và cố hạ ta.
328. QUY TẮC VỀ CÙNG MỘT VẤN ĐỀ
ĐỂ PHÂN BIỆT CÁC THẦN RÕ HƠN
Các quy tắc này thích hợp hơn cho tuần thứ hai.
329. QUY TẮC I: Đặc điểm của Chúa và các thiên thần khi soi giục là ban sự sảng khoái và vui vẻ thiêng liêng liêng thật, xóa bỏ mọi buồn sầu và xao xuyến do kẻ thù đưa vào. Còn đặc điểm của kẻ thù là chống lại sự sảng khoái và niềm an ủi thiêng liêng ấy bằng cách đưa ra những lý do giả tạo, cầu kỳ và ngụy biện không cùng.
330. QUY TẮC II: Chỉ có Thiên Chúa, Chúa chúng ta, mới ban ơn an ủi cho linh hồn mà không cần có nguyên do trước; vì quyền riêng của Đấng Tạo Hóa là vào, ra, đánh động linh hồn, lôi cuốn trọn vẹn linh hồn làm yêu mến Ngài. Tôi nói không có nguyên do, nghĩa là, không có một tình cảm hay một nhận thức về một đối tượng nào trước, nhờ đó sự an ủi phát sinh do tác động của trí tuệ và ý chí.
331. QUI TẮC III: Khi có nguyên do, thần lành cũng như thần dữ đều có thể an ủi linh hồn, nhưng nhằm mục đích trái ngược nhau: thần lành nhằm mưu ích cho linh hồn, để nó lớn lên và ngày càng tốt lành hơn, còn thần dữ nhằm điều ngược lại, để rồi lôi cuốn linh hồn theo ý xấu xa đồi tệ của nó.
332. QUI TẮC IV: Đặc điểm của thần dữ là giả dạng thần lành đi vào theo chiều hướng của linh hồn trung tín để rồi kéo linh hồn ra theo đường của nó; nghĩa là nó bày ra những tư tưởng tốt lành thánh thiện hợp với tâm hồn công chính, rồi lần lần gắng lôi kéo linh hồn ra theo những mưu mô ẩn kín và những ý đồi tệ của nó.
333. QUI TẮC V: Cần chú ý nhiều về diễn biến của tư tưởng. Nếu từ đầu đến cuối đều tốt, hướng hẳn về đường lành, là dấu hiệu của thần lành. Nhưng nếu diễn biến của tư tưởng đưa ta tới điều xấu hoặc lo ra, hay không được tốt như điều trước đó linh hồn đã định làm, hoặc làm giảm sút, khiến ta lo lắng, bối rối, mất sự bình an, yên tĩnh đã có từ trước, đó là dấu hiệu rõ ràng điều ấy bởi thần dữ, kẻ thù của sự tiến tới và phần rỗi ta.
334. QUI TẮC VI: Khi đã cảm thấy và nhận ra kẻ thù của bản tính loài người bởi cái đuôi rắn của nó và mục đích xấu xa nó muốn đưa tới, thì điều có ích cho người bị cám dỗ là sau đó duyệt lại diễn biến của những tư tưởng tốt nó bày ra và khởi đầu của những tư tưởng ấy, và xem nó đã lần lần tìm cách khiến ta rời sự dịu ngọt và niềm vui siêu nhiên vốn có trước, cho đến chỗ đưa ta tới ý định đồi tệ của nó như thế nào; để nhờ nhận biết và ghi lại những kinh nghiệm đó, ta sẽ giữ mình cho khỏi những dối trá thường lệ của nó sau này.
335. QUY TẮC VII: Đối với những người đang tiến tới, thần lành soi dẫn linh hồn cách êm ái, nhẹ nhàng và dịu ngọt, như giọt nước thấm vào miếng bọt biển; còn thần dữ thì thúc đẩy cách chát chúa, ồn ào và sôi động, như giọt nước rơi trên đá. Với những người sa sút, thì các thần nói trên hành động ngược lại. Lý do là tùy theo tình trạng của linh hồn trái ngược hay hòa hợp với các thần nói trên, vì khi trái ngược, thì các thần xâm nhập cách ồn ào, dễ cảm thấy và nhận ra, còn khi hòa hợp thì các thần ấy xâm nhập lặng lẽ như vào nhà mình, cửa mở.
336. QUY TẮC VIII: Khi an ủi không có nguyên do, thì không có cạm bẫy, vì như đã nói trên, đó là ơn của riêng Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Song người sống thiêng liêng được Chúa ban ơn yên ủi phải tỉnh thức, và chú ý xem xét và phân biệt thời gian được an ủi với thời gian tiếp sau, khi linh hồn còn nóng nảy và sung sướng vì ơn an ủi vừa qua và dư hưởng của ơn ấy. Qủa vậy, trong thời gian tiếp sau ấy, nhiều khi tự mình suy nghĩ theo tư tưởng và suy luận riêng, hoặc do ảnh hưởng của thần lành hay thần dữ, ta hoạch ra những dự định và ý kiến mà không phải do Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trực tiếp ban cho, và vì thế, cần xét xem thật kỹ trước khi hoàn toàn tin tưởng ở những điều ấy và đem ra thực hành.
nguồn: Dòng Tên Việt Nam