Hiển thị các bài đăng có nhãn Dòng Đa Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dòng Đa Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

Lịch sử truyền giáo Dòng Đa Minh tại VN

Tòa Thánh trao hẳn địa phận Đông Bắc Việt cho các cha Đaminh tỉnh dòng Mân Côi Phi-luật-tân 1757
Theo lời mời của Đức Cha Pallu và Lambert de La Motte, năm 1678 có 3 cha dòng Đaminh từ Phi luat tan đến truyền giáo tại địa phận đông Bắc Việt giữa lúc đang có cuộc bách hại đạo. Ban đầu các cha Juan Cruz, Morales và Arjona chán nản bỏ về thái lan, nhưng sau khi được Đức Cha Laneau hứa giải quyết mọi đòi hỏi nên 3 cha trở lại Bắc Việt 2-9-1679. Cuộc bắt đạo tiếp tục với mức đọ gắt gao hơn, 2 cha Arjona và Morales đang tìm đường về thái lan thì bị bắt và bị trục xuất 1-12-1680, chỉ có mình cha Cruz nhất định ở lại truyền giáo. Cha Cruz lần lượt làm cha chính năm 1707 và gm đại diện tông tòa năm 1716.
Ban đầu các cha đaminh được chỉ định truyền giáo ỏ 5 huyện tại Nam Định. Vì cuộc bắt đạo các cha phải trốn trành ờ kẻ sặt thuộc xứ đông hay vào thanh hóa. Sớ thừa sai đaminh cũng không nhiều lắm, nhóm đầu tiên 3 người thì 2 người rút lui, nhóm thừ hai tời nam 1693 thì 1 cha chết sớm, 1 cha về lại Manila. Nhóm thứ 3 gồm 2 cha đến năm 1696 thì 1 cha bị trục xuất vì thế vào đầu thế kỉ 18 chỉ có cha Cruz vá Pedro santa Teresa người tây ban nha và cha Lezzoli, người Y do bộ truyền giáo phái đền năm 1680 và sau khi Đức Cha Deydier chết được tòa thánh bổ nhiệm làm gm đại diện tông tòa địa phận đông Bắc Việt nâm 1698. Bộ truyền giáo tiếp tục sai thừa sai đến Bắc Việt, năm 1701 có thêm cha Sestri dòng đaminh người Y, cha Giovanni dòng augutinh nguoi y và 2 cha dòng phanxico. Đưc Cha Bourges coi địa phận Tây Bắc Việt nhất định không nhận thêm thừa sai dòng. Số thừa sai ngoại quốc tới đông khiến các cha VN hoặc phải coi những họ đạo trên miền bắc hoạc trả sang địa phận Tây Bắc Việt.
Từ năm 1717 cha Juan Cruz được chỉ định làm gm, đã dành 1 số họ đạo lớn cho dòng của mình khiến các cha augutinh kiện với bộ truyền giáo. Năm 1721 dc Cruz qua đời và Đức Cha Sestri dòng đaminh người y do bộ TG sai đến cũng muốn dành xứ đạo lớn để đưa thêm các cha đaminh người y sang. Lúc này tòa thánh sai cha Soffietti dòng phanxico đến truyền giáo và làm thanh tra để giải quyết các tranh chấp bằng việc ký những hợp đồng. Năm 1738 dc Ilario dòng augutinh người ý cai quản địa phận đông Bắc Việt và dành nhiều ưu tiên cho dòng augutinh khiến các cha đaminh bất mãn.
Về hoặt động truyền giáo của các cha đaminh trong nửa đầu thế kỉ 18 đáng kể nhất là việc triều đình TBN năm 1738 cấp 6 học bổng cho người VN sang học ở Manila, tất cả đã nhập dòng đaminh, ttrong số này có cha thánh Vinh Sơn Liêm, tử đạo năm 1773 và hiện nay được đại học thánh toma ở manila dựng tượng tôn kính. Một diểm khác đáng lưu ý la từ nâm 1738 các cha đaminh cũng bắt đầu thâu nhận người Việt vào dòng. Lần lượt năm 1738 có 2 cha, 10 năm sau 1747 thêm 3 cha nữa. như thế dòng đaminh là dòng chậm nhất trong việc nhận người bản xứ vào dòng. Người VN trước hết làm lm là do các cha thừa sai pháp huấn luyện và phong chức năm 1668, rồi tới lượt các cha dòng tên khoảng nam 1692 và các cha dòng augutinh nam 1728. Giáo đoàn của các cha đaminh gặp khủng hỏang về nhân sự từ năm 1740 Trong 5 năm có 5 thừa sai qua đời, trong số này có 2 cha tử đạo năm 1745, đó là cha thánh Gil de federich có tên việt là Tế va cha Mateo liciniana có tên việt là Đậu. Thừa sai đaminh TBN duy nhất còn lại là cha Luis Espinosa đã tức tộc nhận thêm nhiều người việt vào dòng và khẳn cắp xin thêm thừa sai. Năm 1750 chử có mình cha Espinosa và 7 cha đaminh VN, giáo đoàn bị đe dọa. Nam sau 1751 được thêm 2 thừa sai tới là Hernandez và Martin.
Theo lời xin của triều đình TBN ngày 6-11-1745 Bộ truyền giáo đề nghị lên ĐTC xin chuyển các cha dòng augutinh hiện chỉ có 4 người y sang giảng đạo bên Trung Hoa và nhường kẻ sặt và tất cả xứ đông cho các cha dòng daminh nhu toà thánh dả trao hẳn diạ phận tay cho các cha thừa sai Pháp. trong số cac thừa sai daminh xin chỉ cha Pedro Ponsgrau, be tren daminh dã ở Bắc Việt từ năm 1732, làm gm phụ tá cho Đức Cha Ilario, va sẽ kế vị khi ngài qua đời. Nhà dòng và triều đình TBN xin chịu mọi chi phí cho các thừa sai và gm. Cũng trong thời gian này Đức Cha Ilario viết nhiều thư yêu cằu bộ truyền giáo chỉ định cha Lorenzo dòng augutinh làm gm phụ tá. Cả 2 lời xin đều không được thi hành. Cha Ponsgrau chết năm 1747, số thừa sai daminh giãm sút thê thảm chỉ còn lại cha Espinosa. Vì thế toà thánh giữ nguyên tình trạng.
Đến năm 1753 dc Ilario và dc Nêz họp công đồng chung để giải quyết các tranh chấp về các giáo đoàn. Lúc này dòng Đaminh chỉ có 3 thừa sai nên rất bất lợi và đã không tham dự công nghị, đồng thời sau khi công nghị kết thức đã cử cha Hernandez về Roma vận động. Dòng Augutinh cũng cử cha Lorenzo về roma. Sau cùng trong phiên họp ngày 15-5-1757 bộ truyền giáo quyết dịnh duy trì các cha dòng augutinh coi sóc Kẻ Sặt và dòng daminh coi Lục Thủy, các nhà dòng nư thuộc quyền cha xứ. Nhưng các vị hồng y lại xin DTC đặt cha Hernandez làm gm đại diện tông tòa địa phận đông và giao hoàn toàn địa phận đông cho các cha Daminh. Với sự kiện mới này,ngày 1-8-1757 bộ truyền giáo đặt cha Espinosa làm cha chính và đồng thời gọi các cha dòng augutinh người Italia về còn các cha dòng augutinh vn hoặc ra triều hoặc theo các cha sang nhá dòng ở âu châu.
Vì phương tiện liên lạc khó khăn và lâu dài, những quyết định của bộ truyền giáo chưa tới Bắc Việt thì xảy ra một cuộc xung đột lớn. Đức Cha Ialrio qua đời nam 1754 và cha adriano dòng augutinh làm cha chính. Cac cha đaminh áp dụng luặt dòng tự động xin cha Paulus Campos dòng tên làm quan toà để bảo vệ quyền lợi. Trong khi đó theo lệnh trước đây của bộ thì gm địa phận kế cận tạm giám quản cho tới khi có gm mới, cha Campos ra va tuyệt thông cho cha cha chính adriano ngày 22-11-1758. Đức Cha Nêz viết thư cho cha Campos nói là cha không được làm như vậy. Tức thời cha Campos ra vạ tuyệt thông cho cả Đức Cha Nêz nữa .
Tình trạng trở nên rối loạn khiến tòa thánh phải cấp tốc cử Đức Cha Boucher, dòng phanxico gm Shensi bên trung quốc làm kinh lược tông tòa sang giải quyết. Đức Cha Boucher đã giải các vạ, tuyên bố tất cả các bí tích làm trong thồi kỳ rối loạn này đều thành sư và đề nghị triệu hồi cha Espinosa, lobresols về âu châu. Đức Cha kinh lược tòa thánh cũng xin xét lại quyết định triệu hồi các cha dòng augutinh vì giáo dân không phục các cha đaminh. Một lần nữa ngày 22-12-1764 Bộ truyền giáo quyết định giữ nguyện lệnh năm 1757, trao toàn điạ phận đông cho dòng daminh và triệu hồi các cha dòng augutinh, đồng thời ra lệnh cho cha Adriano phải rồi Bắc Việt. Từ đây về sau các các gm coi địa phận đông đều thuộc dòng Đaminh.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

Thư tháng 4: Lời Khuyên Của Thánh Tôma Về Việc Học

            Tiếp nối chủ đề về chân lý, xin mời anh chị em đọc lại lời thánh Tôma Aquinô khuyên một môn sinh về việc học. Sau đó, xin triển khai vài điểm nhấn và vài gợi ý trong việc thực hành lời dạy của thánh nhân.

Lời khuyên của thánh Tôma
Anh Gioan thân mến trong Chúa Kitô !
Anh đã hỏi tôi về cách thức học hành làm sao để có thể thủ đắc sự hiểu biết, tôi xin khuyên anh vài điều sau đây :
Anh đừng muốn đi thẳng xuống biển, nhưng hãy từ từ lần theo các dòng suối nhỏ. Hãy đi từ điều dễ cho đến điều khó. Đó là điều mà tôi nghĩ là một quy luật. Hãy chậm nói và từ tốn lên tiếng phát biểu. Hãy giữ lương tâm tinh tuyền. Đừng bỏ qua việc cầu nguyện. Hãy yêu mến sự thinh lặng trong phòng riêng nếu anh muốn được dẫn vào kho tàng kiến thức.
Hãy hòa nhã với mọi người. Đừng tọc mạch muốn biết công chuyện riêng tư của người khác. Đừng quá thân mật với ai hết, bởi vì sự thân mật dễ đưa đến suồng sã và làm xao lãng việc học hành. Đừng nhúng mình vào chuyện thế sự. Tránh bàn tán những chuyện nhảm nhí. Hãy gắng bắt chước gương tốt của những bậc thánh hiền.
Không cần biết ai là tác giả của một câu nói, nhưng hãy biết tiếp nhận điều tốt mà họ nói. Hãy cố gắng hiểu điều mà anh đang đọc hay nghe. Hãy khai thông mọi điều ngờ vực, và lưu giữ trong ký ức những gì có thể được. Đừng tìm kiếm những gì vượt quá khả năng của mình. Anh hãy cố gắng theo các điều vừa nói, tôi tin chắc rằng anh sẽ đạt được điều ước nguyện.
Xin được triển khai theo các nội dung chính sau :

Mở lòng đón nhận chân lý
            Trước tiên ta thấy thánh Tôma cổ võ một tinh thần cởi mở, sẵn sàng đón nhận chân lý đến từ bất cứ hướng nào. Qui tắc này giúp chúng ta gạt bỏ những thành kiến, vượt qua rào cản các khác biệt về nguồn gốc, chủng tộc, văn hóa và cả tôn giáo, để nhận ra những giá trị phù hợp với tin mừng mà Đức Kitô và hội thánh rao giảng. Tất cả dựa trên niềm tin vào Thánh Thần và quyền năng Thiên Chúa. Đấng luôn hiện diện trong lịch sử nhân loại và luôn gợi lên trong lương tâm mỗi người, khát vọng tìm kiếm những gì là tốt đẹp và đúng đắn, khát vọng hướng về chân thiện mỹ.
            Nhớ lại trong tin mừng thánh Máccô, khi các môn đệ tỏ vẻ khó chịu vì có kẻ dám lấy danh Chúa mà trừ quỷ, Đức Giêsu bảo : “Đừng ngăn cản họ, vì không ai lấy danh Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta" (Mc 9, 39-40),

Học gì và học thế nào
            Tuy nhiên các tài liệu không có cùng giá trị như nhau. Không nên quá tham lam, nhưng biết chọn sách theo nội dung mình cần, chọn tác giả uy tín và chuyên môn. Vì thời giờ hạn chế, nên ưu tiên chọn các tác phẩm vừa tầm, ngắn gọn và xúc tích. Cụ thể về thần học và giáo lý, nên sử dụng các sách giáo trình hoặc toát yếu, trước khi nghiên cứu những tài liệu chuyên sâu. Đó cũng là điều thánh Tôma căn dặn :
            "Anh đừng muốn đi thẳng xuống biển, nhưng hãy từ từ lần theo các dòng suối nhỏ. Hãy đi từ điều dễ cho đến điều khó (...)  Hãy cố gắng hiểu điều mà anh đang đọc hay nghe. Hãy khai thông mọi điều ngờ vực, và lưu giữ trong ký ức những gì có thể được. Đừng tìm kiếm những gì vượt quá khả năng của mình".
            Ưu tiên số một của chúng ta là Lời Chúa. Quy luật Huynh đoàn số 10 ghi rõ : "Để hoàn thành ơn gọi của mình, người giáo dân Đa Minh tìm thấy sức mạnh chủ yếu từ việc lắng nghe Lời Chúa và đọc Kinh thánh, nhất là Tân Ước". Cách riêng trong năm 2019 này, xin anh chị tìm nghe và đọc trọn bộ "Kinh thánh 100 tuần" của đức cha Nguyễn Khảm.

Học là hình thức khổ chế
Truyền thống Dòng Đa Minh vốn coi việc học là một hình thức khổ chế. Việc học đòi hỏi tính kỷ luật, sự nỗ lực và quyết tâm. Kỷ luật khi sắp xếp thời gian, nỗ lực để tìm tòi, suy nghĩ, ghi nhớ, và quyết tâm là kiên trì theo tiến trình từ dễ đến khó. Thánh Tôma khuyên nhủ : "Đừng tọc mạch chuyện riêng tư của người khác. Đừng quá thân mật, vì dễ đưa đến suồng sã và xao lãng việc học hành. Đừng nhúng mình vào chuyện thế sự. Tránh bàn tán những chuyện nhảm nhí"
Theo kinh nghiệm, để có thể thấu đáo nội dung những gì mình đang đọc, cần phải biết sắp xếp không gian và thời gian thích hợp. Nếu vừa đọc sách vừa coi tivi hay tán truyện, thì làm sao có thể suy luận và ghi nhớ được. Nên thánh Tôma khuyên chúng ta : "Hãy yêu mến sự thinh lặng trong phòng riêng nếu anh muốn được dẫn vào kho tàng kiến thức".
            Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường vất vả bận rộn vì công việc. Dầu sao, ta vẫn có thể tận dụng được những khoảnh khắc rảnh rỗi để mở rộng kiến thức, như đọc tác phẩm văn học hay xem tin tức giáo hội và xã hội. Nhiều cái năm phút cộng lại, ta tiết kiệm được quỹ thời gian khá lớn.

Mãi mãi là môn sinh
            Thánh Tôma căn dặn chúng ta một điều rất quan trọng trong việc học đó là sự khiêm tốn. Việc học của ta chẳng bao giờ là đầy đủ và hoàn hảo, thế nên mọi người, kể cả các giáo sĩ vẫn cần đến việc thường huấn.
            Những lời khuyên "Hãy hòa nhã với mọi người, ... Hãy chậm nói và từ tốn lên tiếng phát biểu, ... Hãy gắng bắt chước gương tốt của những bậc thánh hiền" nhắc chúng ta nhớ, mình không phải là kẻ thủ đắc được chân lý, mà mãi mãi chỉ là người môn sinh đi tìm chân lý.
            Cần tránh thái độ huênh hoang trong lời nói, sự tự hào thái quá về kiến thức, để biết đón nhận từ tha nhân những bài học và suy tư, sẵn sàng thảo luận và trao đổi, cũng như lắng nghe kinh nghiệm của nhau. Học hỏi gương của các tiền nhân, giúp ta tránh được nhiều đổ vỡ sai lầm.

Thánh hóa việc học hành
            Truyền thống đọc kinh trước giờ học nối chúng ta với lời khuyên khác của thánh Tôma : "Hãy giữ lương tâm tinh tuyền. Đừng bỏ qua việc cầu nguyện".
            Học trong cầu nguyện là ước muốn gặp gỡ Chúa qua từng trang sách. Để khám phá quyền năng Chúa nơi công trình sáng tạo, chiêm niệm tình yêu Chúa trong lịch sử cứu độ, nhận ra bàn tay kỳ diệu Chúa giữa lịch sử nhân loại, và lắng nghe lời mời gọi của Chúa qua các dấu chỉ thời đại.
            Xin được hiệp dâng lời nguyện với thánh Tôma : Lạy Chúa, Chúa đã làm cho thánh Tôma nên gương mẫu tuyệt vời trong việc vun trồng đời sống thánh thiện và lòng yêu mến thánh khoa. Xin giúp chúng con thấu hiểu những điều người dạy và bước theo đường người chỉ vẽ. Chúng con cầu xin nhờ đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

DÒNG ANH EM GIẢNG THUYẾT (DÒNG ĐA MINH)


1. CHÂN DUNG VỊ SÁNG LẬP


Cuối thế kỷ XII, một nạn đói xảy ra ở Palencia, Tây Ban Nha. Chứng kiến nhiều người nghèo chết vì thiếu lương thực, một chàng sinh viên thần học đã đem bán hết sách vở, là thứ quý giá nhất của mình, để cứu giúp những số phận đau thương. “Làm sao tôi có thể học trên những tấm da chết trong khi người ta chết đói ?” Chàng sinh viên tốt bụng ấy tên Domingo de Guzmán (tiếng Việt quen gọi là Đa Minh), chào đời tại làng Caleruega, Tây Ban Nha vào năm 1170.
Lên bảy tuổi cậu Đa Minh được gửi học với cậu của mình là một linh mục. Hoàn tất chương trình thần học rồi được thụ phong linh mục, cha Đa Minh đã gia nhập Kinh sĩ đoàn của nhà thờ chính toà Giáo phận Osma, Tây Ban Nha. Chính tại đây, trong đời sống chiêm niệm của cộng đoàn kinh sĩ, cha Đa Minh nhận ra ơn gọi riêng của mình là cầu nguyện cho các tội nhân, cho những người nghèo và những người đau khổ.
Năm 1203, nhân chuyến tháp tùng đức cha Diego, Giám mục Osma công du đến miền Bắc Âu, cha Đa Minh gặp một chủ quán trọ theo lạc giáo Cathares. Nhóm lạc giáo này chủ trương sống triệt để tinh thần khó nghèo Tin Mừng, nhưng đi đến quá khích là coi thường thân xác và đối nghịch với Giáo hội. Ngọn lửa nhiệt tâm với ơn cứu độ các linh hồn trong chiêm niệm giờ đây bừng cháy, cha Đa Minh thức suốt đêm tranh luận với người chủ quán. Cha đã thuyết phục thành công người này trở lại với đức tin Công giáo. Cuộc gặp gỡ và hoán cải có tính ngôn sứ này đã gợi hứng cho cha Đa Minh ý tưởng thành lập nhóm giảng thuyết.
Đức cha Diego và cha Đa Minh, cùng với sự cộng tác của một số tu sĩ Xitô, noi gương các thánh tông đồ thuở xưa : đi bộ từng hai người một, rao giảng Tin Mừng cho những người lạc giáo. Để duy trì cuộc chiến vì đức tin này, thì cần phải trang bị “vũ khí thiêng liêng”, đó là lời cầu nguyện. Năm 1206, cha Đa Minh quy tụ một số thiếu nữ, phần lớn là con cái của nhóm lạc giáo đã được người cảm hoá, và thành lập Đan viện nữ Đa Minh đầu tiên ở Prouilhe, Pháp.
Thời gian đầu, cha Đa Minh giảng thuyết dưới quyền Đức cha Diego. Năm 1207, Đức giám mục qua đời; cha Đa Minh “đơn thương độc mã”, tiếp tục giảng thuyết tại Carcassonne, Pháp, nơi lạc giáo đang hoành hành. Cho đến năm 1215, có hai anh em ao ước được chia sẻ với cha Đa Minh niềm đam mê giảng thuyết vì “cứu độ các linh hồn”. Cộng đoàn Anh em Đa Minh giảng thuyết đầu tiên ra đời ở Toulouse, với sự chấp thuận của đức cha Foulques, giám mục Toulouse.
Tại công đồng Laterano IV (1215), cha Đa Minh và Đức cha Foulques đệ trình Đức thánh cha Innocente III kế hoạch thành lập một dòng tu mới. Ngày 22 tháng 12 năm 1216, cộng đoàn anh em giảng thuyết do thánh Đa Minh thành lập được Đức thánh cha Honorio III châu phê. Kể từ đó, những anh em của thánh Đa Minh được gọi là “Dòng Anh Em Giảng Thuyết” (Ordo Fratrum Praedicatorum, viết tắt là O.P.)
Dòng thành lập chưa được bao lâu, cha Đa Minh tụ họp mười sáu anh em tiên khởi tại Prouilhe và sai từng hai người một đến các thành phố lớn ở châu Âu để giảng thuyết, học hành và thành lập các tu viện. Cha tin tưởng ủy thác sứ vụ cho các anh em của mình với những lời lẽ khích lệ: “Hạt giống tốt sinh hoa trái khi được phát tán, bằng không sẽ thối rữa nếu chất đống với nhau.” Hôm ấy là lễ Mông Triệu, ngày 15 tháng 8 năm 1217, quen gọi là ngày lễ Ngũ tuần của Dòng.
Tổng hội đầu tiên năm 1220 và tổng hội năm sau đó nhóm họp tại Bologna, Ý đã xác định những nét chính yếu làm nền tảng cho hiến pháp tiên khởi của Dòng. Sau tổng hội thứ hai, cha Đa Minh lâm trọng bệnh và qua đời tại Bolonia vào ngày 6 tháng 8 năm 1221. Người được Đức thánh cha Gregorio IX tôn phong hiển thánh năm 1234, và được Giáo hội mừng kính vào ngày 8 tháng 8 hàng năm.

2. CỘNG ĐOÀN CÁC ANH EM CHIÊM NIỆM VÀ GIẢNG THUYẾT

Dòng Anh Em Giảng Thuyết, như chính tên gọi của Dòng, là cộng đoàn các anh em nhận lãnh sứ vụ giảng thuyết – “công bố Lời Thiên Chúa, loan truyền danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trên toàn thế giới.” Để chu toàn nhiệm vụ này, cha Đa Minh đã đề ra cho anh em một lối sống, một linh đạo, đó là anh em “ở đâu cũng phải sống chính trực và đạo đức như những người khao khát ơn cứu độ của mình và của những người khác, như những con người của Tin Mừng, theo chân Đấng Cứu độ, chỉ nói với Thiên Chúa hay về Thiên Chúa, với mình hoặc cho tha nhân.

Thánh lễ Tuyên khấn lại (8.8.2016), tại Nhà nguyện Tu viện Mân Côi, Gò Vấp
Để làm rõ ý hướng của cha Đa Minh, Hiến pháp Dòng gọi nếp sống này là nếp sống của các Tông đồ theo thể thức thánh Đa Minh cưu mang, tức là “chung sống đồng tâm nhất trí, trung thành tuân giữ các lời khuyên tin mừng, sốt sắng cử hành chung phụng vụ, đặc biệt là việc cử hành Thánh Thể và kinh thần vụ cũng như việc cầu nguyện, chuyên cần học hỏi, kiên tâm tuân giữ nếp sống tu trì.” Những việc này một khi được chu toàn không những làm tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa bản thân, mà còn chuẩn bị và thúc đẩy việc giảng thuyết nhằm phục vụ ơn cứu độ con người. Những yếu tố này của đời sống Đa Minh được hài hoà và quân bình trong một tập thể nhờ một cách thức quản trị mang tính cộng đoàn, theo đó các thành phần có thể hợp tác một cách hữu cơ và thích hợp trong việc theo đuổi mục đích riêng của Dòng.
Những nét đặc trưng trên đây của linh đạo Đa Minh không chỉ giới hạn trong Dòng Anh Em Giảng Thuyết, mà còn được mở rộng đến các chị em đan sĩ Đa Minh, chị em Đa Minh hoạt động tông đồ và Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh (dòng Ba). Chính sự góp mặt của các thành phần này làm nên sự phong phú và tính đa dạng của linh đạo Đa Minh.

3. TÁM TRĂM NĂM TRONG LÒNG GIÁO HỘI VÀ THẾ GIỚI

Ngay sau khi các anh em tiên khởi được phân tán đến những thành phố lớn của châu Âu để rao giảng và lập tu viện, Dòng tăng trưởng một cách kỳ diệu cả về số lượng lẫn chất lượng. Đã có rất nhiều ơn gọi đến với Dòng. Từ Paris, Bologna và Roma, Dòng nhanh chóng lan rộng đến các thành phố lớn khác ở Đông Âu (Ba Lan, Tiếp Khắc, Hungary, v.v.). Theo những tài liệu thống kê vào cuối thế kỷ XIII, Dòng có hơn 12.600 tu sĩ.
Làm thần học…
Thời kỳ đầu, hoạt động chính của anh em Đa Minh chủ yếu là ở những đại học lớn của châu Âu với tư cách là giáo sư thần học và giảng sư ở nhiều nhà thờ chính toà. Ngoài những nhà thần học lỗi lạc thuộc Dòng Đa Minh như thánh Tôma Aquinô và thánh Anbetô Cả, cần phải kể đến cha Vincent de Beauvais, một nhà bách khoa toàn thư của thời Trung cổ, những văn sĩ thần bí lừng danh như tôn sư Eckhart, Johannes Tauler và Chân Phước Henry Suso, đến nay tư tưởng của của các vị này vẫn tiếp tục được nghiên cứu. Ngoài ra, Dòng còn có một nhà thần bí đặc biệt là thánh Catarina Siena. Không chỉ bằng ngôn ngữ triết học, thánh khoa và thần bí, anh em Đa Minh còn diễn tả chân lý đức tin bằng biểu tượng của nghệ thuật tâm linh, như những bức hoạ của Chân phước Fra Angelico, Fra Bartolomeo, v.v..
Đầu thế kỷ XVI, sự xuất hiện và lan rộng của Phong trào Cải cách Tin lành đã tác động đến nề nếp tu trì và sứ vụ của Dòng. Nhưng không bao lâu, công đồng Trentô nhóm họp, anh em đã nhanh chóng khẳng định được sứ mạng thần học và quản trị của mình trong Giáo hội. Khoảng 200 tu sĩ Đa Minh (Tổng giám mục, Giám mục, Đại diện Giám mục, thần học gia) đã tham gia Công đồng. Học thuyết thánh Tôma tìm được vị trí xứng đáng khi được Công đồng dùng để khai triển giáo lý của Hội thánh. Sau Công đồng, hai tu sĩ Đa Minh được bầu làm Giáo hoàng, đặc biệt thánh Giáo hoàng Piô V đã đóng góp rất nhiều trong việc áp dụng giáo lý công đồng vào đời sống Giáo hội.
Cách mạng Pháp (1789) bùng nổ, lại một lần nữa, Dòng phải đương đầu với những khủng hoảng kéo dài. Giữa thế kỷ XIX, cha Henri Lacordaire – văn sĩ và nhà giảng thuyết nổi tiếng ở nhà thờ Đức Bà Paris – đã gia nhập Dòng. Nhờ sự khôn ngoan và năng lực xuất sắc trong việc giảng thuyết, cha đã thu hút được nhiều ơn gọi cho Dòng. Bên cạnh đó cũng phải kể đến khả năng lãnh đạo tài ba của Bề trên Tổng quyền Vincent Jandel đã giúp cho Dòng vượt qua được giai đoạn khó khăn.
Trào lưu Ánh sáng ra đời, cùng với sự phát triển của khoa học, đã tác động đến lối suy tư, khiến người ta đặt lại mọi vấn đề dưới ánh sáng khoa học, kể cả những vấn đề Kinh Thánh và thần học. Nhận thấy khoa học nhân văn, lịch sử, khảo cứu, v.v., giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu Kinh Thánh, cha Marie-Joseph Lagrange đã thành lập Trường Thánh Kinh Giêrusalem vào năm 1890, mở đường cho khoa chú giải Thánh kinh Công giáo hiện đại.
Trong thế kỷ XX, Dòng tiếp tục đóng góp cho Giáo hội nhiều nhà thần học danh tiếng. Cha Yves-Marie Congar, Marie-Dominique Chenu, Edward Schillebeeckx là những chuyên viên quan trọng của Công đồng Vatican II. Cuối thế kỷ XX và đầu XXI, cha Timothy Radcliffe, cựu Tổng quyền của Dòng (1992-2001) cũng là một khuôn mặt nổi bật. Ngài đã xuất bản một số tác phẩm có giá trị và được mời thuyết trình nhiều nơi.
…và truyền giáo
Cùng với nhiệm vụ thần học tại các trung tâm Châu Âu, các anh em Đa Minh còn chú trọng đến sứ mạng truyền giáo. Có thể kể đến một vài nhà truyền giáo nổi tiếng ngay sau thời thánh Đa Minh như thánh Giaxintô (+1257), vị tông đồ của Bắc Âu và Đông Âu, thánh Vinh Sơn Phêriô (+1419), được mệnh danh là “Ông trạng phép lạ.” Cuối thế kỷ XV, nhờ sự phát triển của ngành hàng hải, anh em Đa Minh đặc biệt hướng đến các hoạt động truyền giáo ở những châu lục xa xôi.
Trong số những nhà truyền giáo tiên phong của châu Mỹ, cha Bartolomeo de las Casas, OP. (+1566) – vị tông đồ của thổ dân – là gương mặt nổi bật nhất và xứng đáng được gọi là cha đẻ của nhân quyền vì là người đầu tiên dấn thân trong cuộc đấu tranh đòi công lý và quyền lợi cho thổ dân châu Mỹ. Rồi cũng phải kể đến thánh Máctinô Porét (+1639). Đức Gioan XXIII, trong ngày lễ phong thánh, đã gọi Người là “mẫu gương sáng ngời về đức bác ái.
Tại Châu Á, một Tỉnh dòng Truyền giáo (Tỉnh dòng Mân Côi, gốc Tây Ban Nha) được thành lập năm 1582 tại Philippines. Từ đây các tu sĩ Đa Minh đem ánh sáng Tin Mừng đến các nước Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, v.v.. Công cuộc truyền giáo tại Châu Á đặc biệt gắn liền với những chứng tích của các anh hùng tử đạo. Chỉ riêng Tỉnh dòng Mân Côi đã có 57 nhà truyền giáo tại Châu Á (phần lớn ở Việt Nam và Nhật Bản) được phong hiển thánh và chân phước, ấy là chưa kể 42 vị khác là Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh.

4. BỐN TRĂM NĂM HIỆN DIỆN TẠI VIỆT NAM

Thời các nhà truyền giáo…
Giữa thế kỷ XVI, các tu sĩ Đa Minh đã có những thăm dò đầu tiên cho sứ vụ truyền giáo tại Việt Nam. Năm 1550, nhà truyền giáo Gaspar Santa Cruz (Bồ Đào Nha) từng đặt chân đến Hà Tiên. Từ năm 1596 đến năm 1629, các nhà truyền giáo Đa Minh thuộc Tỉnh dòng Mân Côi, theo lời mời của các vua hoặc quan đại thần Chân Lạp, đã thực hiện bốn chuyến truyền giáo đến miền Nam Việt Nam. Những địa danh ghi dấu chân các ngài là Châu Đốc, Cửu Long, kinh thành Lovea En, Thuận hóa và cửa Hàn, v.v..
Năm 1676, nhận lời mời của đức cha Lambert de la Motte, Tỉnh dòng Mân Côi bắt đầu chính thức sứ mạng truyền giáo ở Đàng Ngoài. Kể từ đó, đã có liên tục 243 thừa sai thuộc Tỉnh dòng này xin chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai.
Địa phận Đông Đàng Ngoài được thành lập năm 1679. Giám mục Đa Minh đầu tiên là Đức cha Lezoli Cao (1698-1706). Kể từ năm 1756, Dòng hoàn toàn đặc trách khu vực tả ngạn sông Hồng, nay là 5 giáo phận : Gp. Hải Phòng (1679), Gp. Bùi Chu (1848), Gp. Bắc Ninh (1883), Gp. Thái Bình (1936) và Gp. Lạng Sơn (1939).
Năm 1738, hai tu sĩ Đa Minh Việt Nam tiên khởi tuyên khấn lần đầu. Từ thời điểm này cho đến năm 1919, con số anh em Đa Minh Việt Nam là 135 tu sĩ (134 linh mục, 1 thầy bốn chức). Sau thời bách hại, đặc biệt từ năm 1934, khi tập viện Đa Minh được thiết lập tại Quần Phương, Bùi Chu, số tu sĩ Đa Minh Việt Nam tăng đáng kể mỗi năm chuẩn bị cho một tỉnh dòng mới được thành lập vào năm 1967.
Từ năm 1902, các tu sĩ Đa Minh thuộc Tỉnh dòng Lyon (Pháp) cùng tham gia sứ vụ tại Việt Nam. Các vị hoạt động tại Hà Nội với tu xá Cartouches và Câu lạc bộ Sinh viên Phục hưng, và phụ trách truyền giáo tại Cao Bằng – Lạng Sơn từ năm 1914. Số thừa sai Tỉnh dòng Lyon đến Việt Nam là 42 vị, trong đó có 2 giám mục.
Gia sản lớn các vị thừa sai để lại cho Giáo hội tại Việt Nam là lòng hăng say, sự nhiệt thành và hy sinh. Công việc tuy âm thầm, nhưng ảnh hưởng sâu đậm với Giáo Hội Việt Nam, đó là cách tổ chức giáo xứ tại những giáo phận Dòng. Đức Pio IX không ngần ngại gọi đó là những giáo phận gương mẫu. Ngoài ra, các vị cũng thành lập các đoàn thể công giáo tiến hành, đặc biệt là Hội Chị Em Đa Minh hãm mình (1715) – tiền thân của các Hội dòng nữ Đa Minh, Dòng Ba Đa Minh, Hội Mân Côi tại nhiều nơi. Ngoài ra còn có hội dây thánh Tôma, hội Kính Danh Chúa Giêsu và hội Imelda (dành cho trẻ em rước lễ lần đầu).
Đặc biệt, cùng với Giáo Hội Việt Nam, những trang sử đậm nét nhất của Dòng Đa Minh trên đất Việt là bản trường ca được viết bằng máu đào của những con người hào hùng, sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Trong danh sách 117 thánh tử đạo Việt Nam, có 38 vị thuộc Gia đình Đa Minh, gồm 6 giám mục, 16 linh mục Dòng Nhất, 3 linh mục Dòng Ba, 6 thày giảng và 7 huynh đoàn giáo dân. Ngoài ra, còn 118 đấng Đáng kính đang chờ được suy tôn chân phước, và hàng trăm vị khác đang được điều tra.
….đến thành lập Tỉnh Dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, Việt Nam (1967)
Biến cố 1954 đã đưa hầu hết tu sĩ Đa Minh đến phục vụ tại các giáo phận miền Nam. Năm 1956, Phụ tỉnh có vị bề trên người Việt đầu tiên là cha chính Giuse Nguyễn tri Ân (1956-1964). Ngày 18 tháng 03 năm 1967, Tỉnh dòng Đa Minh được thành lập tại Việt Nam với thánh hiệu “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo”. Số tu sĩ của tân Tỉnh dòng bấy giờ là 98 người. Vị giám tỉnh tiên khởi là cha Gioakim Nguyễn Văn Liêm (1967-1981).
Vào thời điểm trên, các tu sĩ Đa Minh thuộc Phụ tỉnh Lyon cũng vào Miền Nam và lập tu viện tại đường Tú Xương, Sài Gòn. Ngày 22/05/1999, Cha Timothy Radcliffe, Tổng quyền Dòng Đa Minh, đã ký nghị định hợp nhất Phụ tỉnh Lyon (sau là Phụ tỉnh Pháp) với Tỉnh Dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, Việt Nam.
Thống kê năm 2014, Tỉnh dòng có 368 tu sĩ (1 Giám mục, 233 Linh mục, 16 Phó tế, 34 tư giáo khấn trọng, 47 tư giáo khấn đơn, 32 trợ sĩ khấn trọng, 5 trợ sĩ khấn đơn và 22 tập sinh,. Trên 75 tu sĩ đang cư trú, làm việc và học hành ở nước ngoài. Tại Việt Nam, Tỉnh dòng có 5 tu viện, 3 tu xá, phụ trách 31 giáo xứ; ở hải ngoại, có 1 Phụ tỉnh đặt trụ sở tại Calgary, Canada với 1 tu viện, 2 tu xá (1 tại Houston, Hoa Kỳ) và phụ trách 9 giáo xứ.

5. CÁC HOẠT ĐỘNG SỨ VỤ HIỆN NAY

Về công tác đào tạo thần học, năm 1967, Dòng khánh thành Học viện Đa Minh Thủ Đức để đào tạo linh mục tương lai cho Dòng. Đến năm 1971, Học viện được chọn làm Học viện Liên Dòng. Khi học viện bị tiếp quản (1978), công tác này vẫn được tiếp tục, tuy âm thầm hơn. Hiện nay Trung Tâm Học Vấn Đa Minh, Gò Vấp, sau khi sáp nhập với Đại Học thánh Tôma, Manila, đã được quyền cấp văn bằng Cử nhân Thần học.
Bên cạnh đó, các tu sĩ Đa Minh cũng góp phần cho việc khai sinh và phát triển các Học viện Thần học Liên dòng Nam và Nữ; giảng dạy tại các Đại chủng viện Hà Nội, Sài Gòn, Xuân Lộc; biên soạn các giáo trình, tài liệu thần học, dịch thuật Kinh thánh và các văn kiện Tòa thánh, v.v.; biên tập nội san “Chia Sẻ” của liên tu sĩ thành phố HCM và tập san “Thời sự Thần học”.
Tĩnh tâm Tỉnh dòng 2016
Nhà nguyện Trung tâm Mục vụ Máctinô, Hố Nai
Về mục vụ, hiện nay các tu viện tại Thành phố đều gắn liền với các hoạt động mục vụ của giáo xứ do tu viện đảm trách. Tại Hố Nai, Đền thánh Máctinô là trung tâm hành hương cho nhiều tín hữu với các hoạt động mục vụ thánh lễ, giải tội, học hỏi giáo lý, bác ái, v.v.. Tỉnh dòng cũng tiếp tục phục vụ tại các giáo xứ gốc di cư như Ngọc Đồng, Thánh Tâm (Hố Nai), Lạc Lâm (Đơn Dương), Cao Xá (Tây Ninh). Đặc biệt, một công việc mục vụ khác cũng chiếm khá nhiều nhân lực của Tỉnh dòng là tổ chức và huấn luyện cho các Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh với con số gần 100 ngàn đoàn viên tại 16 giáo phận. Ngoài ra, còn có nhiều tu sĩ dấn thân mục vụ cho các nhóm giáo chức, sinh viên, di dân, khuyết tật, HIV, v.v..
Về sứ vụ truyền giáo, nhờ gia tăng số tu sĩ, gần đây Tỉnh dòng mở rộng cộng tác truyền giáo tại nhiều giáo phận như : Hưng Hóa, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Vinh, Đà Nẵng, Kontum, Ban Mê Thuột và Cần Thơ. Anh em Đa Minh Việt Nam cũng đang thử nghiệm hiện diện tại Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Lào và một số quốc gia trong khu vực.

6. THÔNG TIN CẦN THIẾT

DÒNG ANH EM GIẢNG THUYẾT
Bề trên Tổng quyền : Lm. Bruno Cadoré, O.P.
Trụ sở : Convento Santa Sabina (Aventino)
Piazza Pietro d’Illiria, 1
00153 Roma – Italia
Tel : (3906) 579 401
Fax : (3906) 575 0675
Website : http://curia.op.org
TỈNH DÒNG NỮ VƯƠNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO, VIỆT NAM
(TỈNH DÒNG ĐA MINH VIỆT NAM)Bổn mạng: Đức Mẹ sầu bi (15/09)
Giám tỉnh : Lm. Giuse Nguyễn Đức Hoà, O.P.
Trụ sở : 229 Võ Thị Sáu, Phường 7, Quận 3, Tp. HCM
Đt : (08) 3932 1881 ; Fax : (08) 3932 1880
Website : http://www.daminhvn.net
THỈNH VIỆN ĐA MINH, TAM HÀ – Nơi đón nhận ứng sinh tìm hiểu ơn gọiBổn mạng : Thánh Gioan Tông đồ
Phụ trách ơn gọi : Lm. Phêrô Nguyễn Thế Truyền, O.P.
70/1 Tổ 1, KP. Bình Đường 3, P. An Bình,
Tx. Dĩ An, Tỉnh Bình Dương
Đt : (08) 3897 7962 (Tp. HCM)
Email: thinhviendaminh@gmail.com
Website: http://www.thinhviendaminh.net


Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

4 cột trụ dòng Đa Minh.

Đời sống Đa Minh được đặt nền trên bốn yếu tố: cộng đoàn, cầu nguyện, học tập và giảng thuyết. Đây chính là bốn cột trụ nâng đỡ đời sống của Dòng và giữ cho đoàn sủng của Đấng sáng lập luôn tươi mới. Chúng ta sống bốn cột trụ này một cách trung tín và phong phú sao cho mục đích “giảng thuyết thánh” của Dòng được thành toàn. Trong nếp sống, bốn cột trụ này liên kết mật thiết với nhau giúp cho các anh em của Dòng có thể thực hiện sứ mạng mà cha thánh Đa Minh cũng như Giáo Hội mời gọi đó là: Rao giảng Danh Đức Kitô, Chúa chúng ta trên toàn thế giới.” [Đức Hônôriô III, Thư gửi thánh Đa Minh, 18.1.1221.]

Cộng đoàn

Đời sống Đa Minh trước hết là đời sống cộng đoàn. Cộng đoàn không chỉ là sống cùng với nhau dưới một mái nhà. Tiên vàn, sống cộng đoàn chính là sẵn sàng chia sẻ đời sống với nhau. Nếp sống cộng đoàn mời gọi anh em sống đồng tâm nhất trí, tiến tới sự hiệp nhất với nhau trong Đức Kitô khi cùng chia sẻ một Bánh Thánh ban sự sống và uống chung một chén cứu độ là Máu Con Chiên. [x. Sách Hiến pháp và Chỉ thị (SHC), số 3 §I]


Lý tưởng cộng đoàn tu trì – “một lòng và một ý trong Thiên Chúa” [Tu luật thánh Augustinô, 1] luôn là thách đố đối với tất cả chúng ta. Ước muốn của thánh Đa Minh là bắt chước sự khó nghèo tông đồ của Chúa Giêsu và của Giáo hội sơ khai, vì thế chúng ta được mời gọi “không được nói cái gì làm của riêng, nhưng tất cả đều là của chung cho anh em”[Tu luật thánh Augustinô, 1]. Với việc tuyên khấn sáp nhập vào Dòng Anh Em Giảng Thuyết, chúng ta cam kết đặt tất cả mọi sự làm của chung, cùng nhau chung sống, cầu nguyện và chia sẻ một tầm nhìn chung trong sứ mạng Giảng thuyết. Với tư cách là những tu sĩ Đa Minh, chúng ta cùng nhau chia sẻ những ơn phúc dồi dào mà mình đã lãnh nhận cho tha nhân.
Chúng ta công khai tuyên hứa tuân giữ các lời khuyên Tin Mừng. Lời khấn khó nghèo mời gọi chúng ta sống một nếp sống giản đơn, giải thoát chúng ta khỏi những nhu cầu sở hữu nhiều thứ, giúp chúng ta tự do hơn cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Lời khấn khiết tịnh là một chọn lựa quan trọng, chúng ta không giới hạn bản thân mình với một người bạn đời hay với gia đình, nhưng được tự do trở nên chứng nhân cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Lời khấn vâng phục, về cơ bản, cũng giống như bao dòng tu khác, tuy nhiên tuân phục trong Dòng Đa Minh vẫn có một nét khác biệt vì nó được phát sinh từ đời sống cộng đoàn. Vâng phục là một lời cam kết chọn lựa một nếp sống, mà đây là nếp sống của một nhà giảng thuyết. Sự vâng phục này giúp anh em cùng nhau thi hành sứ mạng giảng thuyết vì lợi ích cho toàn thể Giáo Hội. Sống các lời khấn vẫn luôn là một thách đố, nhưng thách đố này không làm cho chúng ta cảm thấy bị ràng buộc, nặng nề, căng thẳng mà trái lại nó làm cho chúng ta hăng hái và sống tràn đầy hơn.

Cầu nguyện

Người tu sĩ Đa Minh quy hướng cuộc đời của mình vào Chúa Kitô – Đấng là Ánh Sáng thật, đồng thời để cho mình được dẫn dắt bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đem lại ơn chữa lành của Thiên Chúa cho thế giới hôm nay. Châm ngôn cha Đa Minh đã để lại cho anh em là “cum Deo vel de Deo loqui” – nói với Chúa và nói về Chúa. [Hiến pháp tiên khởi, Phần II, số 31]. Phương châm này nói lên tính chất quy thần, tất cả quy hướng về Chúa. Anh em chúng ta sống đặc nét này bằng việc cử hành Lời Chúa trong kinh nguyện phụng vụ chung hằng ngày, trong suy niệm, học hành và trong việc giảng thuyết. Noi gương Mẹ Thiên Chúa, người luôn suy đi nghĩ lại trong lòng, chúng ta cũng nuôi dưỡng đời sống mình bằng Lời Chúa được truyền đạt trong Kinh Thánh, được cử hành trong bí tích Thánh Thể và được chúng ta đụng chạm trong đời sống hằng ngày.
Theo ý muốn của cha Đa Minh, việc cử hành Kinh thần vụ chung và long trọng cần phải được xem như là một trong số những phân vụ chính yếu của ơn gọi chúng ta. Đối với ơn gọi giảng thuyết, kinh nguyện phụng vụ làm nên cốt tủy của đời sống cầu nguyện. Trong cử hành phụng vụ, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa hiện diện và hoạt động. Nhờ chiêm niệm và đón nhận mầu nhiệm cứu độ, chúng ta công bố bằng lời giảng mầu nhiệm ấy cho tha nhân để họ cũng có thể được tháp nhập vào trong thân thể Đức Kitô ngang qua các bí tích đức tin. Trong phụng vụ, cùng với Đức Kitô, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa vì công trình ngàn đời của Người và tặng phẩm cao siêu của ơn thánh Người dành cho nhân loại. Chúng ta khẩn cầu Chúa Cha tuôn đổ lòng thương xót xuống trên toàn thể Hội thánh và ơn cứu độ cho toàn thế giới. Cách riêng, sự hiệp nhất của anh em Đa Minh cũng được củng cố và bén rễ sâu trong cử hành phụng vụ. [SHC 57]

Học tập

Cha thánh Đa Minh xem việc học như là một phần thiết yếu của sứ vụ “giảng thuyết thánh”. Vào thế kỉ thứ XIII, đây quả là một sáng kiến táo bạo vì hầu hết giáo sĩ lúc bấy giờ không được học hành nhiều. Thánh Đa Minh đã gửi các tu sĩ đến các trường đại học lớn thời bấy giờ để học tập, giảng thuyết và thiết lập các trung tâm học vấn. Sự dấn thân cho việc học hành và giảng dạy của các tu sĩ Đa Minh vẫn tiếp tục cho đến hôm nay.
Nguồn mạch đầu tiên của việc học Đa Minh chính là Lời Thiên Chúa, chứa đựng trong Thánh Kinh và Thánh Truyền và được giải thích bởi Huấn Quyền Giáo Hội. Lời mặc khải trọn vẹn nhất đó là chính Đức Giêsu Kitô. Nguồn mạch thứ hai, chúng ta học biết Chân Lý ngang qua công trình tạo dựng của Chúa, qua vũ trụ, qua những thành tựu của con người và ngay cả những tôn giáo khác cũng phản chiếu ánh sáng của Tin Mừng. Như thế, những mạc khải của Thiên qua lịch sử cứu độ cũng như toàn thể công trình tạo dựng của Người đều là nguồn mạch cho việc học hành, đưa dẫn người Đa Minh đến chân lý cứu độ. [x. SHC 78-79]
Mục đích của việc học Đa Minh là làm cho chúng ta trở nên “hữu ích cho linh hồn tha nhân.” [SHC 77 §I]. Khác với học chỉ để thoả mãn trí tò mò, việc học Đa Minh là một công việc của lòng thương xót nhằm giúp cho việc thông truyền chân lý cứu độ trở nên dễ dàng hơn. Việc học của chúng ta cao quý và thánh thiêng, bởi vì động lực thúc đẩy chúng ta học xuất phát từ giới luật kép: tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân.

Giảng thuyết

Ký tự viết tắt “O.P” xuất phát từ tên của Dòng – Ordo Praedicatorum, đặt sau tên của chúng ta nói lên rằng giảng thuyết là trọng tâm của đời sống Đa Minh. Thực vậy, Dòng chúng ta được thành lập là để trở nên “hữu ích cho linh hồn tha nhân” [Hiến pháp Tiên khởi, Tự ngôn]. Như thế, một cách chính yếu chúng ta làm cho  mình trở nên hữu ích cho tác vụ rao giảng Lời Chúa. Đời sống chung, học tập và cầu nguyện của chúng ta, tất cả phải được ăn khớp với nhau để nâng đỡ cho ơn gọi của một nhà giảng thuyết. Việc giảng thuyết của chúng ta được thực hiện dưới nhiều hình thức. Chúng ta giảng thuyết trong phụng vụ và cho các cuộc tĩnh tâm, bên cạnh đó, việc giảng dạy và những hình thức mục vụ khác cũng là cách thế để chúng ta mang Lời có sức chữa lành của Thiên Chúa đến cho tha nhân. Sứ mạng giảng thuyết đưa chúng ta đến với các giáo xứ, các giảng đường đại học, các nhà tĩnh tâm, đến những nơi con người đang thiếu vắng tình thương hay đang sống trong bóng tối sự dữ.
(Linh Mục: Pr Nguyễn Thế Truyền, O.P)