Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2023

HƯỚNG DẪN XƯNG TỘI

 

Hướng Dẫn Xưng Tội

Hướng Dẫn Xưng Tội dành cho tín hữu Công Giáo, tham khảo từ website tonggiaophanhanoi.org

“Luôn nhớ mình đớn hèn, tội lỗi, nhưng không phải run sợ mà trái lại càng tội lỗi, càng phải khăng khít với Chúa, càng phải tin tưởng lại gần Chúa hơn, vì chỉ có Người mới chữa được sự bất xứng của con, vì sự khốn cùng của con là ngai cho lòng nhân từ và thương xót của Chúa ngự.” — Thánh Giáo Hoàng Gio-an XXIII

I. Chuẩn Bị Tâm Hồn

Trước hết, hãy cầu xin Thiên Chúa ban ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần để có thể xét mình một cách tốt đẹp. Trong tâm tình cầu nguyện, hãy xem xét lại tất cả những hành vi của mình dưới ánh sáng của Mười Điều Răn và gương Chúa Ki-tô. Những câu hỏi dưới đây nhằm gợi ý và trợ giúp thực hiện một việc xét mình cẩn trọng.

Hướng dẫn xưng tội

Hướng Dẫn Xưng Tội

Hãy xưng thú với linh mục một cách cụ thể những tội mà mình đã phạm, nếu được, tốt nhất nên nói rõ số lần phạm tội kể từ lần xưng tội trước. Tránh xưng tội một cách chung chung, cũng như tránh kể lể dài dòng, nhất là kể về người khác như để bào chữa cho mình.

Tội là lời nói, việc làm hoặc ước muốn trái với luật Chúa dạy, là xúc phạm đến Chúa, làm hại chính mình và người khác. Có hai thứ tội là tội trọng và tội nhẹ. Tội trọng là cố tình phạm những điều quan trọng trong Luật Thiên Chúa khi đã kịp suy. Tội trọng làm ta mất tình nghĩa với Chúa.

Tội nhẹ là phạm những điều luật nhẹ hoặc một điều quan trọng nhưng chưa kịp suy hay chưa hoàn toàn ưng thuận. Tội nhẹ làm ta bớt lòng mến Chúa và nghiêng chiều về đàng xấu.

Buộc phải xưng những tội trọng, vì những tội nhẹ đã được tha nhờ các việc lành phúc đức, những hy sinh, cầu nguyện, và các việc đạo đức khác. Tuy nhiên, sẽ rất hữu ích khi xưng thú cả các tội nhẹ, vì nó sẽ giúp ta xa tránh tội lỗi và thăng tiến trên con đường thánh thiện.

Hãy nói cho linh mục giải tội biết bậc sống của mình: có gia đình hay độc thân, hay tu sỹ,…

II. Xét Mình

Xét mình theo Mười Điều Răn là một trong những phương thế ích lợi nhất trong việc chuẩn bị xưng tội của người Công Giáo qua nhiều thế kỷ. Trong tâm tình cầu nguyện, các hối nhân được khuyến khích dựa trên những Điều răn này để suy xét các hành vi của mình.

Điều Răn I

“Ta là Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta” (Xh 20,2-3).

  • Tôi có thực sự yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự không? Hoặc tôi có đặt những thứ khác – chẳng hạn như: công việc, tiền bạc, ma túy, truyền hình, danh vọng, lạc thú, hay người nào đó – trên Thiên Chúa không?
  • Tôi có dành thời gian cầu nguyện với Chúa mỗi ngày không?
  • Tôi có hành động ngược lại với đức tin, không hoàn toàn tin tưởng và Chúa bằng việc tham gia vào những điều huyền bí, ma thuật, cầu cơ, bói toán, đồng cốt, bùa ngải, xem giờ, ngày lành tháng tốt… hoặc qua việc đọc, xem, hay chơi những trò trái ngược với đức tin và luân lý không?
  • Tôi có hoàn toàn đón nhận và làm theo thánh ý Thiên Chúa, hay tôi chỉ chọn và tuân giữ những phần “dễ chịu” trong giáo huấn của Người? Tôi có cố gắng trau dồi sự hiểu biết về đức tin của tôi, hay là tôi thờ ơ không chịu tìm hiểu các chân lý mà Chúa đã dạy?
  • Tôi có cố ý nghi ngờ hoặc chối bỏ các chân lý mạc khải, mà trở thành rối đạo, bỏ đạo, hoặc ly khai khỏi Hội Thánh không? Tôi có sẵn sàng xác quyết, bảo vệ, và thực hành đức tin của tôi nơi công cộng chứ không phải chỉ ở nơi riêng tư không?
  • Tôi có tuyệt vọng hoặc nghi ngờ lòng thương xót của Thiên Chúa không?

Điều Răn II

“Ngươi không được dùng Danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng” (Xh 20,7).

  • Tôi có yêu mến và tôn kính Danh Thánh Thiên Chúa không?
  • Tôi có lấy Danh Chúa để làm chứng cho tội ác như thề gian, bội thề không?
  • Tôi có báng bổ, nguyền rủa Thiên Chúa, hoặc kêu tên Người một cách bất kính không?
  • Tôi có cố gắng hết sức thực hiện những lời đã hứa và những lời đã cam kết với Chúa, đặc biệt là những lời hứa khi chịu phép Rửa Tội và Thêm Sức không?
  • Tôi có xúc phạm, báng bổ hay thiếu tôn trọng Đức Mẹ Ma-ri-a, các thánh, Giáo Hội, những người đã được thánh hiến, nơi thánh và những đồ vật thánh không?

Điều Răn III

“Ngươi hãy nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh” (Xh 20,8).

  • Tôi có bỏ lễ Chúa Nhật hoặc ngày lễ buộc mà không có lý do chính đáng (bị ốm, trông người ốm, không thể tìm ra nhà thờ..) không?
  • Tôi có tham dự Thánh Lễ cách tích cực và ý thức, hay chỉ tham dự một cách máy móc cho qua?
  • Tôi có chú tâm đầy đủ vào Lời Chúa không, hay dễ dàng để cho mình bị chia trí?
  • Khi đi tham dự Thánh lễ tôi có cố ý đi trễ về sớm mà không có lý do chính đáng không?
  • Tôi có giữ chay đủ một giờ trước khi chịu lễ không?
  • Tôi có rước lễ trong tình trạng có tội trọng không?
  • Tôi ý thức Chúa Nhật là ngày của Chúa để thờ phượng Chúa, dành tình yêu thương cho gia đình và cho người nghèo khó hay chỉ là “ngày nghỉ cuối tuần”?

Điều Răn IV

“Ngươi hãy thảo kính cha mẹ” (Xh 20,12).

  • Tôi có bỏ bê bổn phận đối với vợ (chồng) con, với cha mẹ, anh chị em ruột không?
  • Tôi có vô ơn đối với sự hy sinh mà cha mẹ đã dành cho tôi không?
  • Tôi có vô lễ với cha mẹ, đối xử tồi tệ với các ngài, hoặc phản ứng lại cách kiêu ngạo khi các ngài sửa dạy tôi không?
  • Tôi có gây ra sự căng thẳng và cãi vã trong gia đình tôi không?
  • Tôi có chăm sóc cho những người họ hàng đã cao tuổi và yếu đau không?
  • Tôi có để ý giáo dục con cái theo giáo lý Ki-tô Giáo, đôn đốc chúng đi nhà thờ, tham dự Thánh Lễ, đi học giáo lý… không? Tôi có nêu gương sáng cho con cái bằng các nhân đức, hay tôi lại gây ra gương mù gương xấu cho chúng bằng những thiếu sót của tôi?
  • Khi kỷ luật con cái, tôi có làm trong tình yêu thương và sự khôn ngoan không?
  • Tôi có khuyến khích con cái cầu nguyện để chúng hiểu được tại sao Thiên Chúa đã dựng nên chúng, cũng như để có thể nhận ra xem chúng có ơn gọi làm linh mục hoặc tu sỹ hay không?
  • Tôi có kính trọng và vâng lời các vị lãnh đạo Giáo hội và các vị bề trên hợp pháp không?
  • Tôi có xúi bẩy ai chống đối Giáo hội và các vị bề trên không?

Điều Răn V

“Ngươi không được giết người” (Xh 20,13).

  • Tôi có cố ý giết người hoặc cố tình hại thân thể của ai không?
  • Tôi có cố tình tự tử hoặc nuôi ý định tự tử, hay cộng tác vào việc ấy không?
  • Tôi có phá thai, hay khuyên bảo hoặc giúp đỡ người khác phá thai không? Tôi có tham gia vào việc phá thai trực tiếp hoặc gián tiếp (qua sự im lặng, hỗ trợ tài chính cho người phá thai hoặc cho các tổ chức ủng hộ phá thai) không?
  • Tôi có tham dự vào việc thụ thai nhân tạo bằng cách bơm tinh trùng vào tử cung hay thụ thai trong ống nghiệm không? Tôi có tham dự vào việc chuẩn đoán bào thai với ý định phá thai nếu kết quả không được như ý không? Tôi có đặt vòng xoắn hay uống thuốc để giết thai non không? (Chú ý: Những ai cố ý phá thai hay cố ý tham gia trực tiếp vào việc phá thai dù đã biết mình sẽ bị rút phép thông công ra khỏi Hội Thánh bởi tội ác này, thì đều bị vạ tuyệt thông. Trong TGP Hà Nội, thường chỉ các cha xứ mới được Đức Giám Mục ban quyền giải vạ này).
  • Tôi có tham gia, hoặc ủng hộ làm “chết êm dịu” những bệnh nhân nan y hay ở trong tình trạng cuối đời (an tử, trợ tử) không?
  • Tôi có lạm dụng con cái hoặc người khác bằng bất cứ hình thức nào không?
  • Tôi có tự ý cắt bỏ hoặc làm hại tới thân thể mình không? Tôi có triệt sản không?
  • Tôi sinh lòng thù hận, có ý định trả thù hoặc không tha thứ cho người khác không?
  • Tôi có điều khiển phương tiện giao thông cách cẩu thả khiến mạng sống của tôi và của người khác ở vào tình trạng nguy hiểm không?
  • Tôi cố tình làm hại sức khỏe của mình không?
  • Tôi có gây gương mù gương xấu qua việc lạm dụng ma túy, sử dụng rượu bia, thuốc lá….quá độ, và đánh chửi nhau không?
  • Tôi có hay quá giận dữ hoặc mất bình tĩnh hay đánh đập người khác không?
  • Tôi có sản xuất, cộng tác sản xuất hay bán hàng giả, thuốc men giả hay sử dụng chất độc hại vào các thực phẩm hoặc sản phẩm làm hại đến sức khỏe hay mạng sống người khác không?
  • Tôi có tôn trọng nhân phẩm của người khác không? Tôi có ức hiếp hay đàn áp người khác không? Tôi có giúp đỡ người khác đang lâm cảnh quẫn bách khi tôi có thể không?

Điều Răn VI và IX

“Người không được ngoại tình” (Xh 20,14).

“Ngươi không được ham muốn vợ người ta” (Xh 20,17).

  • Tôi có nhớ rằng thân thể của tôi là đền thờ Chúa Thánh Thần không?
  • Tôi có vui thích ấp ủ những tư tưởng và những ước muốn dâm ô không?
  • Tôi có chủ ý xem phim, ảnh, sách, báo, trang mạng,… khiêu dâm không?
  • Tôi có nói những lời thô tục hoặc ám chỉ ý xấu và phổ biến phim ảnh, sách báo khiêu dâm không?
  • Tôi có thực hiện hành vi lỗi đức khiết tịnh với chính mình (thủ dâm) hoặc với những người khác như ngoại tình (quan hệ tình dục với một người đã kết hôn), gian dâm (quan hệ tình dục trước hôn nhân) hoặc quan hệ tình dục đồng giới không?
  • Tôi có lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên không?
  • Tôi có chung thủy với vợ/chồng trong tư tưởng và trong hành động không?
  • Tôi có phạm tội thông qua việc sử dụng các biện pháp ngừa thai trái với chu kỳ tự nhiên, triệt sản hoặc thụ tinh nhân tạo không?
  • Tôi có đụng chạm hoặc ôm hôn người khác một cách dâm đãng khi chưa lập gia đình với họ không? Tôi có đối xử với những người khác, trong hành động hay suy nghĩ, như những đồ vật không?
  • Tôi có gây dịp tội cho người khác bằng hành động tục tĩu hoặc ăn mặc hở hang không?
  • Tôi có kết hôn theo đúng luật của Giáo Hội không?
  • Tôi có khuyến khích hay tổ chức cho người có đạo kết hôn không theo luật Giáo Hội không?

Điều Răn VII và X

“Ngươi không được trộm cắp” (Xh 20,15).

“Ngươi không được ham muốn của cải của người ta” (Xh 20,17).

  • Tôi có tham lam hay thèm khát của cải của người khác không?
  • Tôi có chiếm đoạt tài sản của người khác? Tôi có gắn bó quá đáng với những của cải thế gian không?
  • Tôi có trộm cắp, lừa đảo, tiếp tay hay khuyến khích người khác trộm cắp hoặc cầm giữ của ăn trộm không? Tôi có đón nhận đồ trộm cắp không? Tôi có hoàn trả lại hay bồi thường những của đã trộm cắp không?
  • Tôi có làm thiệt hại tài sản của người khác mà không nhận trách nhiệm và không đền bù thiệt hại đó không?
  • Tôi có quỵt nợ hay gian lận không?
  • Tôi có lừa đảo người khác không? Tôi có làm việc xứng với tiền lương người ta trả cho tôi không? Tôi có trả lương công bằng cho những người làm việc cho tôi không? Tôi có giữ đúng lời hứa và hợp đồng (giao kèo) đã ký kết không? Tôi có đút lót, hối lộ hay nhận của đút lót, hối lộ không?
  • Tôi có tôn trọng quyền con người không? Tôi có chăm lo để chu toàn bổn phận của tôi với Thiên Chúa và gia đình không?
  • Tôi có lấy tiền dành cho cuộc sống của gia đình để bài bạc không? Tôi có đánh bạc với số tiền lớn vì tham lam hoặc để thỏa thích thay vì dùng tiền bạc để giúp đỡ người nghèo không?
  • Tôi có quảng đại chia sẻ của cải với những người nghèo khó không?
  • Tôi có quảng đại phục vụ Giáo Hội không? Tôi có đóng góp thời gian, tài năng, và của cải cho công việc tông đồ và bác ái của Giáo Hội và cho hoạt động của giáo xứ tôi không?
  • Tôi có làm hại đến môi trường vứt rác bừa bãi và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cách vô tội vạ không?

Điều Răn VIII

“Ngươi không được làm chứng gian hại người” (Xh 20,16).

  • Tôi có nói dối không? Điều tôi nói dối có gây hại đến tinh thần hay của cải của người khác không?
  • Tôi có bịa chuyện vu khống cáo gian người khác không?
  • Tôi có làm hại đến danh dự người khác bằng lời chứng dối hay tiết lộ với ác tâm các lỗi lầm hay tội lỗi của họ không?
  • Tôi có thề gian không? Tôi có từ chối làm chứng cho sự vô tội của người khác chỉ vì sợ hãi hay ích kỷ không?
  • Tôi có tham gia tán chuyện hay chỉ trích người khác không?
  • Tôi có làm cho gương mù gương xấu cho người khác không?
  • Tôi có phạm tội lừa đảo dưới bất kỳ hình thức nào không?
  • Tôi có sỉ nhục hay trêu chọc người khác với ý định làm hại họ không?
  • Tôi có nịnh hót, tâng bốc, xu nịnh người khác nhằm thủ lợi bất chính không?
  • Tôi có xét đoán hồ đồ, nói xấu, và bôi nhọ người khác không?
  • Tôi có tiết lộ bí mật mà tôi có bổn phận phải giữ không?

Những Tội Khác

  • Tôi có cố ý che giấu không xưng những tội trọng trong lần xưng tội trước không?
  • Tôi có chu toàn bổn phận xưng tội và rước lễ ít là một lần trong Mùa Phục Sinh không?
  • Tôi có giữ chay vào Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh không?

II. Xưng Tội Và Đền Tội

Hối nhân vào tòa giải tội và linh mục giải tội bắt đầu bằng dấu thánh giá và cùng đọc: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.

Linh mục giải tội kêu mời hối nhân đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa bằng những lời như sau (hoặc những lời tương tự):

Xin Thiên Chúa ngự trị trong tâm hồn con (OBACE) để con xưng thú tội lỗi với lòng thống hối chân thành.

Hối nhân thưa: Amen.

Sau đó hối nhân bắt đầu nói:

Thưa cha, xin cha giải tội cho con vì con là kẻ có tội. Con đã xưng tội cách đây… (nói rõ số thời gian [mấy tuần hoặc mấy tháng, mấy năm] kể từ lần xưng tội trước đến lần xưng tội này).

Sau đó hối nhân lần lượt kể ra các tội mình đã phạm. Để việc xưng thú có hiệu lực, hối nhân phải kể hết những tội trọng mà mình đã phạm cách ý thức kể từ lần xưng tội trước, hối hận vì những tội ấy, và phải có ý quyết tâm chừa cải, cố gắng không phạm những tội đó nữa.

Sau khi kể tội xong, linh mục giải tội khuyên giải hối nhân và ra việc đền tội. Sau đó ngài kêu mời hối nhân bày tỏ lòng ăn năn sám hối. Hối nhân có thể bày tỏ lòng thống hối bằng cách đọc để linh mục nghe được một trong những mẫu dưới đây (hãy đọc mẫu vắn tắt A khi có nhiều người xưng tội):

A. Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi (Lc 18,13).

B. Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy (Tv 50,3-4).

C. Lạy Chúa, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.

Sau đó hối nhân cúi đầu nghe linh mục đọc lời xá giải như sau (lời tha tội này rất cần thiết để được khỏi tội, nếu hối nhân rời khỏi tòa trước khi linh mục đọc lời tha tội thì hối nhân sẽ không được khỏi tội):

“Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an, VẬY CHA THA TỘI CHO CON NHÂN DANH CHA VÀ CON + VÀ THÁNH THẦN”.

Hối nhân làm dấu thánh giá (khi linh mục giải tội đọc: Nhân danh Cha và Con…) rồi thưa: AMEN.

Linh mục tiếp tục: Hãy cảm tạ Chúa, vì Người nhân từ

Hối nhân: Vì lòng từ bi của Người tồn tại muôn đời.

Linh mục: Chúa đã tha tội cho con, hãy ra về bình an.

Hối nhân: Tạ ơn Chúa. Cám ơn cha.

Hãy nhớ làm việc đền tội ngay hay sớm nhất để sửa lại những thiệt hại đã gây ra bởi tội hay để chữa lành vết thương tội lỗi và tập đi đàng nhân đức.

NGHI THỨC THÁNH LỄ CÔNG GIÁO

 

NGHI THỨC THÁNH LỄ CÔNG GIÁO


Dựa theo Sách Lễ Rô-ma 2002
Bản dịch Tiếng Việt được Tòa Thánh phê chuẩn ngày 10/05/2005
Giáo Hội Việt Nam áp dụng từ Lễ Phục Sinh 2006


I. NGHI THỨC ĐẦU LỄ

1. Ca nhập lễ

Khi cộng đoàn đã tề tựu đông đủ, linh mục cùng với những người giúp lễ tiến đến bàn thờ trong khi cộng đoàn hát (hoặc đọc) ca nhập lễ. Khi tới bàn thờ, linh mục cùng với những người giúp lễ cúi chào bàn thờ, rồi linh mục tiến lên hôn kính bàn thờ và xông hương (hoặc niệm hương). Sau đó, cùng với các người giúp lễ về ghế… Dứt ca nhập lễ, linh mục đứng quay mặt về phía cộng đoàn, vừa làm dấu thánh giá vừa đọc:

Linh mục: Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.

Cộng đoàn: Amen.

2. Lời chào

Linh mục quay về phía cộng đoàn. Dang tay chào:

Linh mục: Nguyện xin ân sủng Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh (chị) em.

Cộng đoàn: Và ở cùng Cha.

Hoặc:

Linh mục: Chúa ở cùng anh chị em.

Cộng đoàn: Và ở cùng cha.

Linh mục hoặc phó tế hay thừa tác viên xứng hợp có thể nói vắn tắt ít lời hướng lòng cộng đoàn về thánh lễ ấy.

3. Nghi thức sám hối

Tiếp đến là hành động sám hối. Linh mục kêu mời cộng đoàn sám hối.

Linh mục: Anh (chị) em, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta, để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.

Thinh lặng giây lát rồi mọi người cùng đọc kinh Sám Hối:

Cộng đoàn: Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng, và cùng anh (chị) em: tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót.

(Đấm ngực mỗi lần đọc “lỗi tại tôi”)

Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.

(Rồi đọc tiếp)

Vì vậy, tôi xin Ðức Bà Ma-ri-a trọn đời đồng trinh, các Thiên Thần, các Thánh và anh (chị) em, khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta.

Linh mục đọc lời tha tội:

Linh mục: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội, và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

Cộng đoàn: Amen.

4. Kinh Thương Xót

Tiếp đến là Kinh Thương Xót

Xướng: Xin Chúa thương xót chúng con.

Ðáp: Xin Chúa thương xót chúng con.

Xướng: Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con.

Ðáp: Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con.

Xướng: Xin Chúa thương xót chúng con.

Ðáp: Xin Chúa thương xót chúng con.

Tiếp đến là hát hoặc đọc kinh Vinh Danh (không đọc trong Mùa Vọng và Mùa Chay).

5. Kinh Vinh Danh

Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,
và bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa,
chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa,
chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa.
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời,
Là Chúa Cha toàn năng.
Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giê-su Ki-tô (cúi đầu),
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa
là Con Ðức Chúa Cha.
Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con;
Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn.
Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha, xin thương xót chúng con.
Vì, lạy Chúa Giê-su Ki-tô (cúi đầu), chỉ có Chúa là Ðấng Thánh,
chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao,
cùng Ðức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Ðức Chúa Cha.
Amen.

6. Lời nguyện đầu lễ

Dứt kinh Vinh Danh, linh mục chắp tay nói:

Linh mục: Chúng ta dâng lời cầu nguyện.

Linh mục dang tay đọc lời nguyện nhập lễ:

Linh mục: … Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Con Chúa, là Thiên Chúa, và là Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Cộng đoàn: Amen.

Và cộng đoàn ngồi.


II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1

Người đọc sách đến giảng đài, đọc bài đọc 1. Trích sách … Trích thư … và cộng đoàn ngồi nghe. Cuối bài đọc, người đọc sách kết thúc: Ðó là Lời Chúa.

Mọi người tung hô: Tạ ơn Chúa.

2. Đáp ca

Xướng viên hoặc ca viên đọc hoặc hát thánh vịnh. Cộng đoàn đọc hoặc hát câu đáp.

3. Bài đọc 2

Người đọc sách đến giảng đài, đọc bài đọc 1. Trích sách … Trích thư … và cộng đoàn ngồi nghe. Cuối bài đọc, người đọc sách kết thúc: Ðó là Lời Chúa.

Mọi người tung hô: Tạ ơn Chúa.

4. Alleluia

Tiếp đến là phần hát A-lê-lui-a (Hallelujah) nội dung tùy theo từng Thánh lễ.

5. Đọc Phúc Âm

Phó tế hoặc linh mục cùng các người giúp lễ, mang hương nến, đi đến giảng đài. Tại đây, phó tế hoặc linh mục bắt đầu:

Phó tế hoặc linh mục: Chúa ở cùng anh chị em.

Cộng đoàn: Và ở cùng cha (thầy).

Phó tế hoặc linh mục: Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh (Mát-thêu / Mác-cô / Lu-ca / Gio-an).

Trong lúc đọc câu đó, phó tế hoặc linh mục ghi dấu thánh giá trên sách, trên trán, trên miệng và trên ngực mình.

Cộng đoàn tung hô: Lạy Chúa, vinh danh Chúa (và đồng thời dấu thánh giá trên trán, trên miệng và trên ngực mình).

Tiếp đến, nếu có xông hương, phó tế hoặc linh mục xông hương sách rồi công bố Tin Mừng.

Kết thúc phần công bố Tin Mừng, phó tế hoặc linh mục kết thúc:

Linh mục: Ðó là lời Chúa.

Cộng đoàn: Lạy Chúa Ki-tô, ngợi khen Chúa. (Khi đọc danh Chúa Ki-tô, cần phải cúi đầu)

Sau đó, cộng đoàn ngồi. Phó tế hoặc linh mục hôn sách và đọc thầm:

Linh mục: Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc, xin Chúa xóa tội chúng con.

6. Giảng lễ

Tiếp đến là phần giảng lễ. Linh mục giảng lễ và cộng đoàn ngồi nghe.

Sau bài giảng, cộng đoàn đứng dậy tuyên xưng đức tin qua Kinh Tin Kính.

7. Kinh Tin Kính

Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng,
Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.
Tôi tin kính một Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa,
Sinh bởi Ðức Chúa Cha từ trước muôn đời.
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa,
Ánh Sáng bởi Ánh Sáng,
Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,
được sinh ra mà không phải được tạo thành,
đồng bản thể với Ðức Chúa Cha:
nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.
Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta,
Người đã từ trời xuống thế.
(từ “Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần” đến “và đã làm người”, mọi người đều cúi mình).
Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần,
Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a,
và đã làm người.
Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta,
thời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô;
Người chịu khổ hình và mai táng,
ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.
Người lên trời, ngự bên hữu Ðức Chúa Cha,
và Người sẽ lại đến trong vinh quang
để phán xét kẻ sống và kẻ chết,
Nước Người sẽ không bao giờ cùng.
Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần
là Thiên Chúa và là Ðấng ban sự sống,
Người bởi Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con mà ra,
Người được phụng thờ
và tôn vinh cùng với Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con:
Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.
Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện,
công giáo và tông truyền.
Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội.
Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.
Amen.

(Thay thế kinh Tin Kính Ni-xê-a – Constantinôpôli, có thể đọc kinh Tin Kính quen gọi là kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ, nhất là trong Mùa Chay và Mùa Phục Sinh (HÐGMVN quyết định giữ lại kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ thường đọc như sau: Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất…)

8. Lời nguyện tín hữu

Tiếp theo, sau lời kêu gọi của linh mục, một xướng viên lên giảng đài đọc những lời cầu nguyện chung cho mọi người, tức lời nguyện tín hữu. Sau mỗi lời cầu nguyện, người xường viên kêu gọi và cộng đoàn cùng đáp lại:

Xướng viên: Chúng ta hãy cầu nguyện.

Cộng đoàn: Lạy Chúa. Xin nghe tiếng con kêu cầu cùng Chúa.

Hoặc:

Xướng viên: Chúng con cầu xin Chúa.

Cộng đoàn: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Sau đó, linh mục sẽ đọc lời cầu nguyện chung:

Linh mục: … Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa Chúng Con.

Cộng đoàn: Amen.

Và cộng đoàn ngồi.


III. PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

Ðọc lời nguyện tín hữu xong, ca đoàn bắt đầu hát ca tiến lễ. Trong khi đó, những người giúp lễ mang chén thánh, khăn thánh, khăn lau chén và sách lễ lên bàn thờ.

1. Dâng bánh và rượu

Linh mục đứng ở bàn thờ, cầm đĩa thánh đựng bánh, nâng lên cao một chút và cầu nguyện rồi đặt đĩa bánh lên khăn thánh.

Phó tế hoặc linh mục rót rượu và một chút nước vào chén thánh, cầu nguyện rồi đặt chén thánh lên khăn thánh.

Xông hương của lễ và bàn thờ, rồi phó tế hoặc một người giúp lễ xông hương cho linh mục và cộng đoàn. Sau đó linh mục đọc thầm lời cầu nguyện

Linh mục trở lại bàn thờ, quay mặt về phía cộng đoàn, cộng đoàn đứng dậy, linh mục dang tay mời cộng đoàn cầu nguyện và nói:

Linh mục: Anh chị em hãy cầu nguyện
để hy lễ của tôi cũng là của anh chị em
được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận.

Cộng đoàn: Xin Chúa nhận hy lễ bởi tay cha,
để ca tụng tôn vinh danh Chúa,
và mưu ích cho chúng ta cùng toàn thể Hội Thánh Người.

2. Lời nguyện tiến lễ

Sau đó, linh mục dang tay đọc lời nguyện tiến lễ. Cuối lời nguyện, linh mục kết thúc:

a. Nếu thưa với Chúa Cha:

– Chúng con cầu xin nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.

b. Nếu thưa với Chúa Cha, nhưng ở cuối lời nguyện vừa nói với Chúa Giê-su:

– Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

c. Nếu thưa với Chúa Giê-su:

– Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Cộng đoàn: Amen.

3. Lời tiền tụng

Linh mục: Chúa ở cùng anh chị em.

Cộng đoàn: Và ở cùng cha.

Linh mục: Hãy nâng tâm hồn lên.

Cộng đoàn: Chúng con đang hướng về Chúa.

Linh mục: Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta.

Cộng đoàn: Thật là chính đáng.

Tiếp theo, linh mục đọc lời tiền tụng tùy theo Thánh lễ của mỗi mùa phụng vụ. Ví dụ Chúa Nhật III Phục Sinh:

Linh mục: Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong mùa cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.

Người không ngừng hiến thân vì chúng con, và luôn làm trạng sư bênh vực chúng con trước tòa Chúa. Người đã bị sát tế mà không còn chết nữa, dù đã bị giết mà vẫn sống luôn mãi.

Vì thế với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:

Cộng đoàn đồng thanh:

Cộng đoàn: Thánh! Thánh! Thánh!
Chúa là Thiên Chúa các đạo binh.
Trời đất đầy vinh quang Chúa.
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.
Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa.
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.

4. Kinh Tạ Ơn II

Chủ tế dang tay đọc:

Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng Thánh,
là nguồn mọi sự thánh thiện.

Cộng đoàn trong đền thờ quỳ. Chủ tế đặt hai tay trên lễ vật và đọc:

Chủ tế: Vì thế, chúng con nài xin Chúa
dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hóa những của lễ này,

Chắp tay. Làm một dấu thánh giá trên bánh và rượu, đang khi đó đọc:

để trở nên cho chúng con
Mình và Máu Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con.

Chắp tay. Trong những công thức sau đây, các lời của Chúa phải được đọc rõ ràng và lớn tiếng:

Khi tự nguyện nộp mình chịu khổ hình,

Chủ tế cầm lấy bánh, nâng lên một chút và đọc tiếp:

Người cầm lấy bánh, tạ ơn,
bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói:

Hơi cúi mình:

Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn:
Vì này là Mình Thầy,
sẽ bị nộp vì các con.

Chủ tế cầm bánh đã truyền phép, nâng lên cho cộng đoàn thấy, sau đó đặt trên đĩa bánh, cúi mình thờ lạy, cộng đoàn cùng cúi đầu.

Rồi đọc tiếp:

Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối,

Chủ tế cầm chén thánh nâng lên cao một chút và đọc tiếp:

Người cầm lấy chén, cũng tạ ơn,
trao cho các môn đệ mà nói:

Hơi cúi mình

Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống:
Vì này là chén Máu Thầy,
Máu giao ước mới và vĩnh cửu,
sẽ đổ ra cho các con
và nhiều người được tha tội.
Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.

Chủ tế nâng chén lên cho cộng đoàn thấy, sau đó đặt trên khăn thánh, cúi mình thờ lạy, cộng đoàn cùng cúi đầu.

5. Tung hô

Rồi chủ tế nói:

Chủ tế: Ðây là mầu nhiệm đức tin.

Cộng đoàn tung hô:

Cộng đoàn: Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết,
và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến.

Chủ tế dang tay đọc:

Chủ tế: Vì vậy, lạy Chúa,
khi kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại,
chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh
và chén cứu độ để tạ ơn Chúa,
vì Chúa đã thương cho chúng con
được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa.
Chúng con tha thiết nài xin Chúa
cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Ðức Ki-tô,
được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.

Ðồng tế 1: Lạy Chúa,
xin nhớ đến Hội Thánh Chúa lan rộng khắp hoàn cầu,
để kiện toàn Hội Thánh trong đức mến,
cùng với Ðức Giáo Hoàng Phan-xi-cô
Ðức Giám Mục … (tùy theo giáo phận) chúng con và toàn thể hàng giáo sĩ.

(Trong thánh lễ có nghi thức riêng, có thể thêm ý cầu nguyện đặc biệt ở lúc này).

Trong thánh lễ cầu cho kẻ qua đời, có thể thêm:

Xin nhớ đến tôi tớ Chúa là …
mà (hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa.
Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa,
thì cũng được sống lại như Người.

Ðồng tế 2: Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con
đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại,
và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ
và thân bằng quyến thuộc chúng con
đã ly trần trong tình thương của Chúa.
Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng Tôn Nhan Chúa.
Chúng con nài xin Chúa thương xót tất cả chúng con,
cho chúng con được đồng hưởng sự sống đời đời,
cùng với Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa,
các Thánh Tông Ðồ và toàn thể các thánh,
đã sống đẹp lòng Chúa qua mọi thời đại,
và cùng với các Ngài, chúng con được ca ngợi và tôn vinh Chúa,

(Chắp tay)

nhờ Ðức Giê-su Ki-tô, Con Chúa.

Chủ tế cầm đĩa với bánh thánh và chén, nâng cả hai lên và nói:

Chủ tế: Chính nhờ Người, với Người và trong Người,
Mà mọi danh dự và vinh quang đều qui về Chúa
Là Cha toàn năng,
trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời.

Cộng đoàn tung hô: Amen.


IV. NGHI THỨC HIỆP LỄ

Ðặt chén và đĩa xuống, chủ tế chắp tay đọc:

Chủ tế: Vâng lệnh Chúa Cứu Thế, và theo thể thức Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng:

Cộng đoàn đứng dậy. Chủ tế dang tay và cùng với cộng đoàn đọc:

Lạy Cha chúng con ở trên trời,
chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
Nước Cha trị đến,
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con;
xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

Chủ tế dang tay đọc một mình:

Chủ tế: Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ,
xin đoái thương
cho những ngày chúng con đang sống được bình an.
Nhờ Chúa rộng lòng thương cứu giúp,
Chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi
và được an toàn khỏi mọi biến loạn,
đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc,
và ngày trở lại của Chúa Giê-su Ki-tô,
Ðấng Cứu Ðộ chúng con.

Chắp tay.

Cộng đoàn tung hô kết thúc lời nguyện:

Cộng đoàn: Vì vương quyền, uy lực và vinh quang
là của Chúa đến muôn đời.

Chủ tế dang tay đọc rõ tiếng:

Chủ tế: Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã nói với các Tông đồ rằng:
“Thầy để lại bình an cho các con,
Thầy ban bình an của Thầy cho các con”.
Xin đừng chấp tội chúng con,
nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa;
xin đoái thương ban cho Hội Thánh được bình an
và hợp nhất theo thánh ý Chúa.

(Chắp tay)

Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Cộng đoàn: Amen.

Chủ tế quay về phía cộng đoàn, dang tay rồi chắp tay lại và nói:

Chủ tế: Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em.

Cộng đoàn: Và ở cùng cha.

Chủ tế hoặc phó tế nói:

Chủ tế hoặc phó tế: Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau.

Mọi người chúc bình an cho nhau. Chủ tế chúc bình an cho phó tế hay cho người giúp lễ. Rồi bẻ bánh trên đĩa, lấy một miếng nhỏ bỏ vào chén và cầu nguyện thầm.

Trong khi đó, cộng đoàn hát hoặc đọc:

Lạy Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian: xin thương xót chúng con.
Lạy Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian: xin thương xót chúng con.
Lạy Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian: xin ban bình an cho chúng con.

Chủ tế bái gối rồi cầm bánh thánh lên trên đĩa, quay về phía cộng đoàn, cộng đoàn trong đền thờ quỳ và chủ tế đọc lớn tiếng:

Chủ tế: Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.

Chủ tế đọc chung với cộng đoàn một lần:

Cộng đoàn: Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh.

Sau đó cộng đoàn ngồi dậy đọc kinh Dọn Mình Hiệp Lễ.

Chủ tế đọc thầm: Xin Mình Thánh Chúa Giê-su gìn giữ con, cho con được sống muôn đời.

Chủ tế cung kính rước Mình Thánh. Rồi cầm chén và đọc thầm: Xin Máu Thánh Chúa Ki-tô gìn giữ con, cho con được sống muôn đời.

Chủ tế cung kính rước Máu Thánh.

Rồi cầm đĩa hoặc chén đựng Mình Thánh đi đến từng người rước lễ, nâng bánh thánh lên một chút và nói:

– Mình Thánh Chúa Ki-tô.

Người rước lễ thưa:

– Amen.

Và cho rước lễ. Sau đó, người rước lễ về chỗ và cầu nguyện.

Trong khi đó, ca đoàn hát hoặc đọc thánh vịnh hay thánh ca tạ ơn.

1. Lời nguyện hiệp lễ

Khi mọi người đã rước lễ xong. Chủ tế đứng tại ghế hoặc lên bàn thờ và nói:

Chủ tế: Chúng ta dâng lời cầu nguyện.

Rồi chủ tế dang tay đọc lời cầu nguyện hiệp lễ. Kết thúc Lời Nguyện Hiệp Lễ, chủ tế:

a. Nếu thưa với Chúa Cha:

– Chúng con cầu xin nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.

b. Nếu thưa với Chúa Cha, nhưng ở cuối lời nguyện vừa nói tới Chúa Giê-su:

– Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

c. Nếu thưa với Chúa Giê-su:

– Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Cộng đoàn: Amen.


V. NGHI THỨC KẾT LỄ

Nếu có gì thông báo cho cộng đoàn thì nói lúc này.
Ðể kết thúc Thánh lễ, chủ tế quay về phía cộng đoàn, dang tay chào:

Chủ tế: Chúa ở cùng anh chị em.

Cộng đoàn: Và ở cùng cha.

Chủ tế ban phép lành:

Chủ tế: Xin Thiên Chúa toàn năng
là Cha, và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em.

Cộng đoàn: Amen.

Phó tế hoặc chủ tế: Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.

Cộng đoàn cúi đầu: Tạ ơn Chúa.

Chủ tế cung kính hôn bàn thờ như đầu lễ. Cúi mình chào bàn thờ chung với các người giúp lễ, rồi về phòng thánh.

Cộng đoàn thường ở lại đọc các kinh trước tượng Đức Mẹ: Kinh Cám Ơn – Kinh Trông Cậy – Kinh Cầu Các Thánh,… Làm dấu Thánh giá rồi ra về.