Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Tập Nhận Định Ơn Gọi

Recluses_missionaires
Một nữ tu sau khi linh thao để chuẩn bị khấn trọn đời thì bối rối muốn chuyển ơn gọi, chị đang ở trong một dòng hoạt động tông đồ. Nay chị muốn chuyển sang một dòng chiêm niệm. Chị cần nhận định để thấy rõ ý Chúa.
I.   BA ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN.
  • Chị có khao khát và ước muốn thi hành ý Chúa không?
  • Cởi mở với Chúa: Chị có sẵn sàng mở lòng ra với Chúa, và bình tâm để được Chúa Thánh Thần dẫn dắt không?
  • Thân quen với Chúa và hiểu biết về Chúa: Nguyên lí nền tảng của con người là gì? Cứu cánh của chị đặt vào gía trị nào?
II. BA ĐỨC TÍNH NỘI TÂM CƠ BẢN.
  • Khiêm tốn: Cần đặt mình vào trong hoàn cảnh đang nghi ngờ về chính mình có thể sai lầm và rất cần người khác giúp đỡ trong thái độ khiêm tốn, vâng phục, tin yêu và hy vọng.
  • Bác ái: Chị nhận ra đâu là những nguyên nhân khiến cho chị bị day dứt, bối rối và muốn chuyển ơn gọi? Chị thấy mình có bị xung khắc hay bất đồng ý kiến với những người xung quanh khi họ không ủng hộ cho lựa chọn của chị không?
  • Can đảm: Chị có đủ can đảm để thực hiện ý Chúa trong những trường hợp: ý của Chúa không phải là những điều chị thích và chị đang mong muốn? Những đòi hỏi của sự trung thực với lòng mình khi cảm nhận thấy đây là ý Chúa và hoàn toàn xác tín dù chưa dám chắc về mặt khách quan.
III. NHẬN ĐỊNH CÁI GÌ VÀ NHẬN ĐỊNH THẾ NÀO?
A. Nhận định khôn ngoan.
  •  Nhận định để tìm biết ý Chúa muốn chị sống theo ơn gọi nào: hoạt động tông đồ hay chiêm niệm?
    •  Khi đi vào nhận định để tìm ý Chúa phải bỏ hết ý của mình, nghĩa là phải được bình tâm.
Chị có hoàn toàn được tự do, để cho lòng mình được bình tâm, không bị nghiêng chiều về bên nào, và đặt tiêu chuẩn Thiên Chúa trên hết, không chọn điều này hay điều kia, nhưng theo điều nào giúp chị tôn vinh Thiên Chúa, cứu rỗi các linh hồn và vừa với sức của chị? Nghĩa là hoàn toàn để ý Chúa được thực hiện dù phải trả giá.
  •  Đặt mình trước sự hiện diện của Chúa trong mối tương quan của chị với Chúa: Mối tương quan Cha- con. Xin ơn Chúa Thánh Thần giúp chị lựa chọn điều nào Chúa muốn, điều nào làm cho chị nên giống Chúa Ki-tô hơn.
1. Dùng trí khôn để xem xét các lý do thuận và nghịch
a.     Đặt ra hai câu trả lời ngược nhau:
* Chúa muốn chị ở lại dòng và khấn trọn đời.
* Chúa muốn chị chuyển ơn gọi sang dòng chiêm niệm để bắt đầu lại từ đầu.
b. Xem xét lý thuận, lý nghịch cho câu trả lời thứ nhất (Chúa muốn chị ở lại dòng và khấn trọn đời)
     *Bên thuận:
  • Nếu chị ở lại trong dòng và chị sẽ khi khấn trọn đời. Sau khi khấn có thể chị sẽ cộng tác một cách hiệu quả trong việc truyền giáo cho các vùng sâu vùng xa tốt hơn; vì nhận thấy chị là một người có tinh thần cộng tác, nhiệt thành, năng nổ và hội dòng cũng đang rất cần nhân sự như chị để có thể tin tưởng và trao sứ mạng.
  • Sau khi khấn trọn đời, chị có thể dễ dàng được tự do và thoải mái hơn trong mọi quyết định, không còn phải gò bó, lệ thuộc vào chương trình của học viện nữa.
  • Hoặc chị cũng có thể được bầu chọn vào trong các lãnh vực như: ban huấn luyện, ban điều hành, ban hội đồng của hội dòng và như vậy chị có quyền và chỗ đứng do trách nhiệm.
       * Bên nghịch:
  • Chị thấy mình như bị cuốn hút với sứ mạng tông đồ bởi lòng nhiệt thành, sẽ dễ bị lãng quên đời sống cầu nguyện là trọng tâm của đời sống dâng hiến.
  • Hoặc chị ở lại nhưng có thể không được hội dòng tín nhiệm trong sứ mạng tông đồ, cũng như những trách nhiệm trong hội dòng, nhưng trao cho chị những công việc tầm thường mà chị không muốn.
  • Hoặc chị sẽ được trao một sứ mạng mà đối với chị là một thách đố, chị sợ không vượt qua được.
   c. Xem xét lý thuận, lý nghịch cho câu trả lời thứ hai:(chị chuyển ơn gọi sang dòng chiêm niệm)
     * Bên thuận:
  • Nếu chị chuyển ơn gọi sang dòng chiêm niệm, chị sẽ có cơ hội luyện tập sự khiêm tốn, có cơ hội học hỏi, đào sâu, trưởng thành và xác tín hơn về đời sống thánh hiến qua việc huấn luyện trong thời gian nhà tập.
  • Chị cảm thấy được sống thân mật với Chúa hơn qua đời sống chiêm niệm.
  • Chị có thể được dễ dàng hơn đối với đời sống tu trì của mình trong khuôn viên của tu viện, không phải tiếp xúc với môi trường xã hội bên ngoài, chị cảm thấy được an tâm để ở với Chúa cách trọn vẹn hơn.
* Bên nghịch:
  • Nếu chị chuyển ơn gọi, chị sẽ phải làm lại từ đầu: Thời gian tìm hiểu, thời gian thử        thách và chương trình đào tạo.
  • Điều kiện để được nhận vào dòng có thể còn phải xem xét vì chị đã hơi lớn tuổi.
  • Chị có đủ khiêm tốn để đón nhận sự sửa dạy trong khi huấn luyện hay đôi khi sẽ cảm thấy bị mặc cảm…?
2. Dùng lý trí để xét xem nghiêng chiều về bên nào thì quyết định theo bên đó.
( Lưu ý: cứ để cho các câu hỏi, những ý thuận, ý nghịch tự nhiên xuất hiện và cho chúng là thế đó, không do dự, đắn đo).
3. Dùng trí tưởng tượng để biết phải chọn hướng nào.
  • Giả định có người bạn thân đến xin ý kiến về lựa chọn tương tự, với lòng yêu mến và khách quan chị sẽ khuyên người bạn ấy chọn hướng nào thì chị sẽ chọn hướng ấy.
  • Giả như khi chọn xong chị sẽ chết, chị có giữ nguyên lựa chọn ấy không?
  • Đặt mình trong ngày phán xét cho cuộc lựa chọn này, chị sẽ chọn bên nào?
4. Xin xác chuẩn:
  • Xác chuẩn nội tại trong tâm hồn:
    •  Tâm hồn được bình an sâu thẳm, niềm vui thiêng liêng, an ủi Chúa ban trước quyết định    đã chọn
    • Có được sức mạnh nội tâm để quyết chí theo đến cùng lựa chọn ấy.
    • Suốt tiến trình lựa chọn, tư tưởng luôn hướng về sự lành và luôn cảm thấy được bình an.
    • Xác chuẩn ngoại tại (môi trường)
      • Thiên thời: Chúa ban cho chị thời cơ thuận lợi để thực hiện điều đã chọn.
        • Địa lợi:Chúa ban cho chị những hoàn cảnh và phương tiện phù hợp để thực hiện điều ấy.
        • Nhân hoà: Chúa ban cho chị mọi ơn cần thiết để thực hiện điều đã chọn. Chị cảm thấy vừa sức và hạnh phúc với lựa chọn của mình.
( Nếu thấy lòng không yên ổn, buồn sầu lo lắng thì phải làm việc lựa chọn lại, hoặc chuyển sang phương pháp nhận định thiêng liêng)
B. Nhận định thiêng liêng.
   1. Xem các dấu hiệu Chúa ra cho câu trả lời thứ nhất:
  • Chúa muốn chị ở lại dòng.
Thiết lập mối tương quan mật thiết với Chúa và xét các hệ quả của lựa chọn ấy trong chính mối tương quan giữa chị với Chúa.
Quan sát những chuyển động trong tâm hồn của Chị có những ước nguyện nào? Chị cảm thấy được gần Chúa hay xa Chúa hơn? Chị có hài lòng về chính điều chị chọn không? Có thấy được niềm vui, sự bình an hơn hay cảm thấy buồn chán và sầu khổ?
  • Chúa muốn chị chuyển ơn gọi.
Thiết lập mối tương mật thiết với Chúa và xét các hệ quả của lựa chọn ấy trong chính mối tương quan giữa chị với Chúa.
Quan sát những chuyển động trong tâm hồn của Chị có những ước nguyện nào? Chị cảm thấy được gần Chúa hay xa Chúa hơn? Chị có hài lòng về chính điều chị chọn không? Có thấy được niềm vui, sự bình an sâu thẳm hơn hay cảm thấy buồn chán và sầu khổ?
  • Chị cần phân tích và đọc được ngôn ngữ của các thần qua các chuyển động nội tâm để biết chính xác hơn đâu là ý Chúa muốn nơi chị.
    • Nếu chị cảm thấy được gần Chúa hơn, được niềm vui, sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn đó là sự an ủi thiêng liêng. Chị cần nhìn lại để biết an ủi đến từ đâu: thần lành hay thần dữ? Thiên Chúa hay ma quỷ? (LT số 330-336). Chị cũng cần dựa vào tiến trình từ đầu đến cuối nếu chỉ là điều tốt thì đó là thần lành; chiều hướng chuyển biến nội tâm đi từ điều chưa tốt đến điều tốt hơn…
    • Nếu chị cảm thấy xa Chúa hơn, buồn chán hay sầu khổ thì đó là sầu khổ thiêng liêng. Chị cũng cần phân tích để nhận ra sầu khổ do đâu? Tại lỗi của chị hay Chúa muốn để cho chị tỉnh thức hơn? ( LT 318-324).
      • Vì ta chểnh mảng, thiếu sự ngiêm túc trong các việc thiêng liêng.
      • Để thử sức của ta tới đâu ta có thể vươn tới trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa.
      • Để ta học biết và nhận thức rằng: mọi an ủi không phải tự sức cố gắng của ta, mà đều là ân điển của Thiên Chúa. để nhắc nhở ta đừng tự đắc đến trở thành kiêu ngạo, khoe khoang.
      • Không nên thay đổi điều gì đã quyết định trước khi bị sầu khổ (LT. 318).
      • Không nên thay đổi những quyết định nhưng phải cương quyết thay đổi chính mình, làm các việc đạo đức như: cầu nguyện, suy gẫm, xét mình và khổ chế cách nghiêm túc hơn (LT. 319).
  • Chị cần nhìn lại những nguyên nhân khiến cho ta bị sầu khổ:
  • Nếu chị cảm thấy bị sầu khổ cần lưu ý:
  • Không nên thay đổi điều gì đã quyết định trước khi bị sầu khổ (LT. 318).
  • Không nên thay đổi những quyết định nhưng phải cương quyết thay đổi chính mình, làm các việc đạo đức như: cầu nguyện, suy gẫm, xét mình và khổ chế cách nghiêm túc hơn (LT. 319).
 nguồn : Dòng Tên

Quy tắc phân định thần loại






313. QUY TẮC ĐỂ CẢM BIẾT VÀ NHẬN RA PHẦN NÀO
NHỮNG THÚC ĐẨY KHÁC NHAU TRONG LINH HỒN
ĐIỀU TỐT ĐỂ ĐÓN NHẬN VÀ ĐIỀU XẤU ĐỂ LOẠI BỎ
các quy tắc này thích hợp hơn cho tuần thứ nhất
314. QUY TẮC I: Đối với những người sa ngã hết tội trọng này sang tội trọng khác, kẻ thù thường quen bày cho họ những vui thú bề ngoài, xui họ tưởng đến những khoái lạc và vui thú giác quan để dễ cầm giữ và thúc đẩy họ tiến sâu vào thói hư và tội lỗi. Với những người như thế, thần lành dùng phương pháp ngược lại, bằng cách thôi thúc cho lương tâm cắn rứt họ bằng luật tự nhiên của lẽ phải.
315. QUY TẮC II: Nơi những người tiến mạnh trong việc diệt trừ tội lỗi và đang tiến lên hơn mãi trên đường phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, thì lại có phương pháp ngược lại với quy tắc thứ nhất. Vì khi đó, đường lối riêng của thần dữ là cắn rứt, làm buồn phiền và đặt chướng ngại bằng cách gây băn khoăn lo lắng với những lý lẽ giả tạo để người ta khỏi tiến tới, còn cách thức riêng của thần lành là làm cho can đảm và sức mạnh, an ủi, nước mắt, ơn soi giục và an nghỉ, giảm bớt và hủy diệt các trở ngại để cho người ta tiến lên trong đàng lành.
316. QUY TẮC III: Về an ủi thiêng liêng. Gọi là an ủi trong khi linh hồn phát khởi một thúc đẩy nội tâm, khiến linh hồn bừng cháy lửa kính mến Đấng Tạo Hóa và Chúa mình, và do đó, không có thể yêu một tạo vật nào trên mặt đất vì chính tạo vật ấy, nhưng chỉ yêu trong Đấng tạo dựng mọi sự. Đó cũng là trường hợp linh hồn chảy nước mắt giục lòng mến Chúa, hoặc bởi đau đớn vì tội lỗi mình, hay vì sự thương khó của Đức Kitô, Chúa chúng ta, hay vì những điều khác trực tiếp hướng về việc phụng sự và ca ngợi Chúa. Sau cùng, còn gọi là an ủi mọi gia tăng của lòng tin- cậy- mền, cùng mọi niềm vui bề trong mời gọi và lôi kéo (tâm hồn) đến những sự trên trời và phần rỗi riêng của linh hồn mình, làm cho linh hồn được nghỉ ngơi và an bình trong Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.
317. QUY TẮC IV: Sự sầu khổ thiêng liêng. Gọi là sầu khổ tất cả những gì trái ngược với quy tắc thứ ba, như sự tối tăm trong linh hồn, xao xuyến bề trong, thúc đẩy về những gì thấp hèn và phàm tục, lo lắng về những xao động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy, lòng mên; (linh hồn) cảm thấy lười biếng, khô khan, buồn sầu và như bị lìa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa mình. Vì như an ủi trái ngược với sầu khổ thế nào, thì các tư tưởng do an ủi sinh ra cũng trái ngược với các tư tưởng do sầu khổ sinh ra như vậy.
318. QUY TẮC V: Trong thời gian sầu khổ, đừng bao giờ thay đổi, nhưng hãy cương quyết bền vững trong những quyết định và dốc lòng có trước khi bị sầu khổ, hoặc những quyết định đã có khi được an ủi trước đây. Vì cũng như trong khi được an ủi, phần nhiều là thần lành hướng dẫn khuyên nhủ ta thế nào, thì trong cơn sầu khổ, thần dữ cũng (làm) như vậy, mà theo lời khuyên của nó, ta chẳng thể gặp được con đường đưa tới đích.
319. QUY TẮC VI: Trong cơn sầu khổ, nếu như không nên thay đổi những điều đã quyết định, thì lại rất nên cương quyết thay đổi chính mình để chống lại với cơn sầu khổ ấy, chẳng hạn bằng cách chăm chú cầu nguyện, suy gẫm hơn, xét mình nhiều hơn và gia tăng sự hãm mình theo cách nào thích hợp.
320. QUY TẮC VII: Đang gặp sầu khổ, ta hãy nghĩ rằng, để thử luyện ta, Chúa đã để ta với sức tự nhiên chống trả các xao động và cám dỗ của kẻ thù; như vậy ta vẫn có thể chống trả được, nhờ ơn Chúa vẫn giúp đỡ dù ta không cảm thấy rõ ràng. Vì Chúa rút bớt lòng sốt sắng nồng nàn, lòng mến bao la và ân sủng mạnh mẽ nhưng vẫn để lại ân sủng đủ cho sự cứu rỗi đời đời.
321. QUY TẮC VIII: Đang cơn sầu khổ hãy gắng giữ sự nhẫn nại, là sự trái ngược với những xáo trộn xảy đến, và nghĩ rằng, chẳng bao lâu nữa sẽ được an ủi, nếu hết sức chiến đấu với cơn sầu khổ ấy, như đã nói ở quy tắc thứ sáu.
322. QUY TẮC IX: Có ba nguyên do chính khiến ta gặp sầu khổ:
· thứ nhất: vì ta không sốt mến đủ, lười biếng hay chểnh mảng trong các việc thiêng liêng; vậy là vì lỗi ta mà sự an ủi thiêng liêng lìa bỏ ta;
· thứ hai: để thử coi sức ta tới đâu và ta có thể vươn tới đâu trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa, khi không được thưởng công bằng bấy nhiêu an ủi và ân sủng bao la;
· thứ ba: để ta học biết và nhận thức tận thâm tâm rằng, không phải tự ta làm phát sinh hay duy trì được lòng sốt sắng vô ngần, lòng mến mạnh mẽ, nước mắt hoặc ơn an ủi thiêng liêng, mà mọi sự đều là ân điển của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và để ta đừng “làm tổ ở nhà người khác”, và đừng tự đắc đến trở thành kiêu ngạo, khoe khoang, tự gán cho mình lòng sốt sắng hay các hoa trái khác của ơn an ủi thiêng liêng.
323. QUY TẮC X: Khi được ơn an ủi, phải nghĩ tới cách xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến, đồng thời dành lấy sức cho lúc đó.
324. QUY TẮC XI: Ai được an ủi, phải gắng tự khiêm và tự hạ chừng nào có thể, bằng cách nghĩ mình nhỏ hèn biết mấy trong cơn sầu khổ, khi không có ân sủng này. Trái lại, người lâm cơn sầu khổ phải nghĩ mình có thể làm được nhiều nhờ ơn đủ của Chúa trợ giúp, để chống trả mọi kẻ thù, nhờ lấy sức nơi Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.
325. QUY TẮC XII: Kẻ thù xử sự như đàn bà, vì khi ta chống trả thì nó yếu, và khi ta để mặc thì nó mạnh. Quả vậy, đặc tính của đàn bà khi gây gỗ với người đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi người đàn ông thẳng tay chống trả. Trái lại, nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, thì cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của người đàn bà thật không sao lường được.
Cũng vậy, đặc tính của kẻ thù là yếu nhược, khiếp đảm và bỏ chạy với những chước cám dỗ của nó, khi người tập tành trong đàng thiêng liêng thẳng tay chống trả các cám dỗ của nó bằng cách làm điều ngược hẳn lại. Trái lại, nếu người ấy bắt đầu sợ hãi và mất can đảm trước cơn cám dỗ, thì trên mặt đất này, không có vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài người trong việc theo đuổi ý định xấu xa của nó cách dữ dằn chừng ấy.
326. QUY TẮC XIII: Kẻ thù cũng còn sử xự như kẻ si tình lẳng lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị lộ. Quả vậy, một người đàn ông đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một người đứng đắn, thì muốn cho những lời dụ dỗ của hắn được giữ kín; trái lại hắn rất bất mãn khi thiếu nữ mách với cha, thiếu phụ mách với chồng những lời quyến rũ và ý xấu xa của hắn, vì hắn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào thành công được với chuyện hắn đã bắt đầu.
Cũng vậy khi kẻ thù của bản tính loài người đưa những sự xảo trá và xúi giục của nó vào linh hồn ngay lành, thì mong muốn những điều đó được tiếp nhận và giữ kín. Nhưng khi linh hồn tỏ ra với cha giải tội tốt hay một người đạo đức nào khác am tường những dối trá và sự hiểm độc của nó, thì nó rất bất mãn, vì nó kết luận rằng không thể đạt tới điều xấu xa mà nó đã bắt đầu, vì sự dối trá rõ rệt của nó đã bị phanh phui.
327. QUY TẮC XIV: Kẻ thù lại còn xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những gì nó muốn. Vì như một vị chỉ huy cầm đầu đội quân, sau khi đặt bản doanh trại và xem xét lực lượng hoặc cách bố trí của một thành trì, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất; thì cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người lượn quanh để dò xét những nhân đức đối thần, các nhân đức trụ và các nhân đức luân lý khác của ta, và điểm nào nó thấy ta yếu nhất và dễ nguy nhất cho phần rỗi đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó và cố hạ ta.
328. QUY TẮC VỀ CÙNG MỘT VẤN ĐỀ
ĐỂ PHÂN BIỆT CÁC THẦN RÕ HƠN
Các quy tắc này thích hợp hơn cho tuần thứ hai.
329. QUY TẮC I: Đặc điểm của Chúa và các thiên thần khi soi giục là ban sự sảng khoái và vui vẻ thiêng liêng liêng thật, xóa bỏ mọi buồn sầu và xao xuyến do kẻ thù đưa vào. Còn đặc điểm của kẻ thù là chống lại sự sảng khoái và niềm an ủi thiêng liêng ấy bằng cách đưa ra những lý do giả tạo, cầu kỳ và ngụy biện không cùng.
330. QUY TẮC II: Chỉ có Thiên Chúa, Chúa chúng ta, mới ban ơn an ủi cho linh hồn mà không cần có nguyên do trước; vì quyền riêng của Đấng Tạo Hóa là vào, ra, đánh động linh hồn, lôi cuốn trọn vẹn linh hồn làm yêu mến Ngài. Tôi nói không có nguyên do, nghĩa là, không có một tình cảm hay một nhận thức về một đối tượng nào trước, nhờ đó sự an ủi phát sinh do tác động của trí tuệ và ý chí.
331. QUI TẮC III: Khi có nguyên do, thần lành cũng như thần dữ đều có thể an ủi linh hồn, nhưng nhằm mục đích trái ngược nhau: thần lành nhằm mưu ích cho linh hồn, để nó lớn lên và ngày càng tốt lành hơn, còn thần dữ nhằm điều ngược lại, để rồi lôi cuốn linh hồn theo ý xấu xa đồi tệ của nó.
332. QUI TẮC IV: Đặc điểm của thần dữ là giả dạng thần lành đi vào theo chiều hướng của linh hồn trung tín để rồi kéo linh hồn ra theo đường của nó; nghĩa là nó bày ra những tư tưởng tốt lành thánh thiện hợp với tâm hồn công chính, rồi lần lần gắng lôi kéo linh hồn ra theo những mưu mô ẩn kín và những ý đồi tệ của nó.
333. QUI TẮC V: Cần chú ý nhiều về diễn biến của tư tưởng. Nếu từ đầu đến cuối đều tốt, hướng hẳn về đường lành, là dấu hiệu của thần lành. Nhưng nếu diễn biến của tư tưởng đưa ta tới điều xấu hoặc lo ra, hay không được tốt như điều trước đó linh hồn đã định làm, hoặc làm giảm sút, khiến ta lo lắng, bối rối, mất sự bình an, yên tĩnh đã có từ trước, đó là dấu hiệu rõ ràng điều ấy bởi thần dữ, kẻ thù của sự tiến tới và phần rỗi ta.
334. QUI TẮC VI: Khi đã cảm thấy và nhận ra kẻ thù của bản tính loài người bởi cái đuôi rắn của nó và mục đích xấu xa nó muốn đưa tới, thì điều có ích cho người bị cám dỗ là sau đó duyệt lại diễn biến của những tư tưởng tốt nó bày ra và khởi đầu của những tư tưởng ấy, và xem nó đã lần lần tìm cách khiến ta rời sự dịu ngọt và niềm vui siêu nhiên vốn có trước, cho đến chỗ đưa ta tới ý định đồi tệ của nó như thế nào; để nhờ nhận biết và ghi lại những kinh nghiệm đó, ta sẽ giữ mình cho khỏi những dối trá thường lệ của nó sau này.
335. QUY TẮC VII: Đối với những người đang tiến tới, thần lành soi dẫn linh hồn cách êm ái, nhẹ nhàng và dịu ngọt, như giọt nước thấm vào miếng bọt biển; còn thần dữ thì thúc đẩy cách chát chúa, ồn ào và sôi động, như giọt nước rơi trên đá. Với những người sa sút, thì các thần nói trên hành động ngược lại. Lý do là tùy theo tình trạng của linh hồn trái ngược hay hòa hợp với các thần nói trên, vì khi trái ngược, thì các thần xâm nhập cách ồn ào, dễ cảm thấy và nhận ra, còn khi hòa hợp thì các thần ấy xâm nhập lặng lẽ như vào nhà mình, cửa mở.
336. QUY TẮC VIII: Khi an ủi không có nguyên do, thì không có cạm bẫy, vì như đã nói trên, đó là ơn của riêng Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Song người sống thiêng liêng được Chúa ban ơn yên ủi phải tỉnh thức, và chú ý xem xét và phân biệt thời gian được an ủi với thời gian tiếp sau, khi linh hồn còn nóng nảy và sung sướng vì ơn an ủi vừa qua và dư hưởng của ơn ấy. Qủa vậy, trong thời gian tiếp sau ấy, nhiều khi tự mình suy nghĩ theo tư tưởng và suy luận riêng, hoặc do ảnh hưởng của thần lành hay thần dữ, ta hoạch ra những dự định và ý kiến mà không phải do Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trực tiếp ban cho, và vì thế, cần xét xem thật kỹ trước khi hoàn toàn tin tưởng ở những điều ấy và đem ra thực hành.
nguồn: Dòng Tên Việt Nam

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Mối Tình Giêsu

Tôi đã yêu một người tôi chưa thấy
Dung nhan Người tôi chẳng biết ra sao
Nhưng lòng tôi cảm nghiệm được phần nào
Bóng dáng Người qua vũ trụ trời đất
 
Tôi yêu Người bằng niềm tin son sắt
Nên cho dù không thấy rõ mười mươi
Tôi vẫn xin trao gửi hết cho Người
Trọn tình yêu cho dù tôi chẳng đáng
 
Tôi thấy Người nơi bình minh buổi sáng
Ánh long lanh đang khai mở một ngày
Cho đất trời rộn rã khúc vui say
Muôn thụ tạo hồi sinh mừng nắng mới
 
Tôi thấy Người khi chuông chiều vọng tới,
Ánh mây sâu lơ lửng chẳng buồn trôi
Ánh tà dương chấm hết một ngày rồi
Khiến lòng người bâng khuâng dòng cảm xúc
 
Tôi thấy Người khi hạt mưa dạo khúc
Qua bản nhạc mưa tí tách bên hiên
Mưa dạt dào tựa câu hát tình duyên
Ngỏ vào hồn những ngọt ngào say đắm
 
Tôi thấy Người khi trời cao đổ nắng
Khiến cây xanh, hoa khoe sắc vươn mình
Ong chập chờn và cánh bướm thêm xinh
Chim chuyền cành cùng hân hoan ca hát
 
Tôi thấy Người nơi rừng xanh bát ngát
Chốn non đoài cao vút tận trời mây
Tựa tình yêu thăm thẳm quá cao dày
Người trao gửi vào lòng tôi mãi mãi
 
Tôi thấy Người qua đại dương rộng trải
Biển mênh mông xanh ngắt cuối chân trời
Biển thẳm sâu xa tít tận mù khơi
Ấy tình Người yêu tôi còn hơn thế!
 
Tôi thấy Người qua vầng dương mạnh mẽ
Nơi vầng nguyệt huyền ảo giữa thinh không
Bởi chính Người thật lẫm liệt uy phong
Nhưng dịu dàng, ngọt thanh và từ ái
 
Tôi thấy Người qua mảnh đời khổ ải
Nơi đồng hoang hay những chốn công trường
Nơi trẻ em đói khát bên lề đường
Và những người không một nơi ẩn náu
 
Tôi thấy Người qua vòng gai giọt máu
Đồi Canvê ghi dấu cây thập hình
Chết gục đầu trong những tiếng cười khinh
Đất với trời kết nên lời giao ước
 
Tôi yêu Người bởi Người yêu tôi trước
Khi yêu rồi chỉ muốn hòa vào nhau
Tôi muốn mình mặc lấy những thương đau
Để trở nên giống người tôi thương mến
 
Đã bao lần nỗi cô đơn chợt đến
Khi niềm tin lay động giữa dòng đời
Và khi lòng mang bao nỗi chơi vơi
Tôi tưởng rằng Người không yêu tôi nữa
 
Nhưng tình Người ngọt hương như dòng sữa
Chẳng bao giờ Người có thể không yêu
Người kề bên an ủi lúc quạnh hiu
Cho vơi đi những muộn phiền lo lắng
 
Không có Người thấy lòng sao trống vắng
Ở bên Người ôi hạnh phúc dâng cao
Tôi yêu Người tình yêu lạ biết bao
Bởi tôi yêu một người tôi chưa thấy.

Lễ Dâng Cuộc Đời Cho Thiên Chúa

Các bạn trẻ thân mến,
Cứ sự thường ai cũng thích được nhận quà. Món quà thể hiện tình thương ta trao gửi cho nhau. Những món quà gợi nhắc đến mối tương quan mặn nồng và ấm áp ta dành cho người khác. Một món quà càng xuất phát từ trái tim thì càng quý giá. Món quà nào đòi buộc người tặng quà phải hy sinh nhiều thì càng có giá trị và càng làm vui lòng người nhận hơn. Đặc biệt, nếu món quà ấy lại đến từ người mà ta yêu thương, hẳn không còn niềm vui nào lớn hơn thế.
Lễ vật nào dâng lên Chúa cũng được Ngài vui lòng đón nhận, nếu xuất phát từ tấm chân tình. Một chút hy sinh, một chút hoa quả từ lao công, đối với Chúa đều là những tặng phẩm quý giá. Tuy nhiên, đối với một số người, dâng một cái gì đó bên ngoài cho Ngài không làm Ngài thỏa mãn. Có một số người mà Ngài chọn riêng, Ngài muốn họ không chỉ dâng hoa màu ruộng đất, nhưng là dâng trót cả cuộc đời. Một cuộc đời sống riêng cho Chúa, một cuộc đời ở trong nhà Ngài, ca ngợi Ngài bằng những câu kinh thánh thiêng. Hiến dâng cho Ngài trọn vẹn trái tim không chia cắt, dù trái tim ấy có thể đã rách nát vì tội lỗi bao năm tháng qua.
Cuộc đời của một người sống đời dâng hiến không khác mấy cuộc đời của những con người kia. Họ cũng có những nhu cầu tương tự. Cần được ăn uống, cần được vui chơi, cần được yêu mến. Vào những lúc cô đơn, họ cũng muốn có một người yêu thương bên cạnh. Họ cũng có những cảm xúc nồng cháy. Họ cũng cần một bờ vai, một bàn tay, một chỗ dựa. Họ cũng có những giọt nước mắt khi buồn, những tiếng cười khi vui. Họ cũng ước ao được làm mẹ, làm bố, được cuối tuần tay trong tay thong dong dạo mát bên bờ hồ. Họ cũng có những phút mơ mộng, thả hồn theo cánh diều lơ lửng giữa không trung. Họ cũng có những phút giây lầm lỗi, những lúc yếu mềm, những khi phạm tội. Cuộc đời họ không phải lúc nào cũng trinh trắng như thiên thần, cũng hồn nhiên như con trẻ. Họ có khi không phải là những con người lỗi lạc, thông minh xuất chúng. Có khi, họ chỉ là những con người bình thường, xuất thân trong một gia đình nghèo hèn, nơi một thôn quê hẻo lánh. Nhưng không hiểu cớ sao Chúa lại muốn họ phải dâng chính cuộc sống của mình, trọn vẹn con người mình, để phụng sự một mình Thiên Chúa, để thực thi thánh ý của Ngài.
Có những tu sĩ đáp lại lời mời gọi của Chúa, hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình. Mười năm, hai mươi năm, hay bảy tám chục năm, cả một cuộc đời chỉ loay hoay trong những công việc tầm thường nhỏ bé. Có khi chỉ là canh cổng, nhặt rau, nấu nướng trong xó bếp. Chẳng một chút danh dự, chẳng mấy người biết đến, vậy mà khuôn mặt vẫn toát lên nét thánh thiện vui tươi. Có những người suốt bao nhiêu năm dài sống bên người cùi, người AIDS, các bệnh nhân tâm thần, nhưng không một lời oán than, kêu ca. Họ sinh ra và chết đi như cánh hoa dại nở ngoài đồng. Chẳng ai biết, chẳng ai hay, nhưng bất cứ khi nào còn sống, họ còn cố sức vươn dậy, nở thật tươi, tỏa cho đời những hương thơm tuyệt mỹ.
Những khi buồn phiền ập tới, họ âm thầm ngồi lặng lẽ nơi góc cuối nguyện đường, dưới chân cây thập giá. Có những nỗi khổ tâm trong lòng, chẳng biết phải tỏ bày cùng ai, họ mang đến trước mặt Chúa, cùng với những giọt nước mắt chứa chan. Nơi góc phòng, có thể họ đã khóc thật nhiều khi nỗi cô đơn của kiếp người chợt đến. Những lúc trái gió trở trời, họ cần một người nâng khăn sửa túi, cần một đôi tay để ôm họ vào lòng để họ được sưởi ấm. Nhưng câu trả lời dành cho họ chỉ là sự thinh lặng của vòng gai và giọt máu mà họ đang chiêm ngắm trên thập giá kia. Có thể lòng họ rất buồn nhưng khi đối diện với anh chị em, họ vẫn phải cố gắng nở những nụ cười thật tươi, trao ban những ánh nhìn trìu mến. Có khi thập giá nặng quá, họ đã ngã gục biết bao lần, nhưng vì tình yêu dành cho Chúa và cho các linh hồn, họ gượng dậy, đứng lên, vác đi tiếp.
Thật khó có thể dùng lời nào để diễn tả cho trọn vẹn của lễ mà họ dâng lên Chúa. Họ hy sinh mái ấm của mình, họ đánh đổi cả sự an toàn của mình. Họ sẵn sàng cất bước đến những miền đất xa để nói về Chúa cho người khác. Họ ra đi mà chẳng biết là có được về nhà nữa hay không. Họ hoàn toàn giao phó cuộc đời mình cho Chúa, làm bạn với khó nghèo, sống trinh khiết toàn vẹn. Kể từ giây phút hiến dâng, họ đã không còn làm chủ mình nữa, nhưng là chính Đức Kitô, Đấng đã mở lời kêu gọi họ. Suốt cuộc đời dâng hiến, họ chẳng mong điều gì khác ngoài việc mỗi ngày trở nên giống Đức Kitô hơn.
Các bạn trẻ thân mến,
Lý tưởng của đời tu là thế. Nhưng không phải ai cũng sống được lý tưởng này. Hơn ai hết, người tu sĩ cần những lời cầu nguyện của người khác để đời tu của họ thật sự là một của lễ tinh tuyền và thanh khiết. Xin hãy tha thứ cho những sai phạm vì yếu đuối của người tu sĩ, và giúp họ sống đời tu của mình cho đúng nghĩa hơn. Người sống đời dâng hiến cũng là con người với bao nhiêu lỗi tội. Họ chỉ biết lấy lời kinh cuộc đời kết hợp với cuộc khổ nạn Chúa làm tặng phẩm cho trần gian. Thay vì trách cứ họ, xin dành cho họ một lời nguyện, để trái tim họ được rộng mở hơn và tình yêu giữa họ và Đức Kitô được nên trọn vẹn và đơm hoa kết trái.

true love?..

Một cậu bé kia nuôi một con rùa nhỏ xinh xắn. Hằng ngày, cậu chơi đùa và chăm lo cho nó. Một hôm, cậu phát hiện là con rùa nằm bất động trên sàn, không có dấu hiệu gì của sự sống nữa. Cậu đã khóc lóc rất nhiều. Ông bà, bố mẹ, anh chị thay nhau dỗ dành, nhưng không tài nào khiến cậu thôi khóc và ăn uống trở lại. Cuối cùng, họ đành phải lấy lòng cậu bằng cách đề ra một kế hoạch an táng trịnh trọng cho con rùa. Họ sẽ trang trí căn phòng giống như phòng tang. Rồi sẽ có một cái hòm nhỏ thật xinh xắn để đặt con rùa vào trong. Rồi sẽ có những vòng hoa. Cả nhà sẽ rước hòm con rùa đi một vòng quanh nhà như một hình thức đưa tiễn. Sau đó, bố sẽ đào một cái hố nhỏ trong vườn. Anh sẽ làm một cái bia mộ nhỏ nhắn… Cậu bé thấy hay quá, nên vui vẻ trở lại và không khóc nữa. Khi mọi người chuẩn bị thực hiện những gì đã nói thì bỗng dưng con rùa tỉnh lại. Cả nhà, ai cũng vui mừng vì hóa ra con rùa vẫn còn sống. Họ nghĩ là cậu bé sẽ rất vui, nên nói với cậu. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người, cậu bé chẳng có biểu hiện gì là hạnh phúc. Trái lại, cậu còn đề nghị là hãy giết con rùa đi, để kế hoạch “an táng” kia được thực thi vì nó vui hơn.
Tôi đã giật mình khi đọc câu chuyện này. À, hóa ra, cậu bé có yêu quý con rùa đâu. Cậu chỉ yêu những gì làm cậu ta vui mà thôi.
Còn bạn, bạn có thực sự yêu không?

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Vào Thiên Đàng bằng "cửa sau"...

Ngày kia, Chúa Cha bỗng nhận ra trên Thiên Đàng sao bát nháo quá: đông đảo hạng người xuất hiện nhộn nhịp hẳn lên, bèn gọi Thánh Phêrô đến và hỏi: _Này, anh có giữ cửa Thiên Đàng cẩn thận không đấy? Dạo này ta thấy Thiên Đàng có vẻ lộn xộn lắm, anh lo mà sắp xếp lại cho trật tự đi nhé!
Thánh Phêrô ngơ ngác bối rối nhưng cũng cung kính đáp:
_Thưa vâng, con sẽ xem lại ạ!
Quay lưng đi, ông thầm nghĩ: Lạ nhỉ, Chuyện này là thế nào? Mình vẫn giữ chìa khóa cẩn thận kia mà. Và ai tới của Thiên Đàng cũng đều phải có tên trong danh sách mới được vào chứ. Sao lại có đủ thứ người lạ xuất hiện thế này? Không lẽ có sự gian lận nào sao?…À! Phải rồi, hay còn chiếc chìa khóa nào khác giống của mình nữa?… Ơ! Cũng không phải, vì chính Thầy Giêsu đã trao nó cho mình kia mà. Phải rồi, Vậy chắc là Thầy còn một chiếc nữa. Phải đi gặp Thầy mới được!
Nghĩ là làm. Phêrô ba chân bốn cẳng chạy đến với Đức Giê su kể lể sự tình rồi nói:
_Bẩm Thầy, thế thì nhất định Thầy còn một chiếc chìa khóa giống như thế nữa phải không ạ? Và Thầy đã mở cho họ vào mà con không biết chứ gì?

Thê nhưng, Đức Giêsu mỉm cười nhìn ông, rồi bảo:
_Tôi chỉ có duy nhất một chiếc chìa khóa nước trời và tôi đã trao nó cho anh rồi còn gì.
_Thế thì con phải giải thích làm sao với Chúa Cha sự tình này đây, thưa Thầy?
Đức Giê su dịu dàng đáp:
_Anh đi mà hỏi Mẹ tôi đấy!
_Đức Nữ Vương Thiên Đàng ấy à? Mẹ thì can dự gì trong chuyện này cơ chứ?
_Thì…Tôi nghĩ chỉ có Mẹ tôi chứ không ai vào đây đâu…
_Ôi trời!!!
Thế là Thánh Phêrô chạy đi tìm Đức Maria ngay. Tìm khắp nơi mà chẳng thấy đâu. Hay Mẹ đang hát thánh ca với các thiên thần? Nhưng đến chỗ ca đoàn các thiên thần thì không có…Phải, phải! Chắc là đang ở chỗ các phụ nữ Giêrusalem. Đến chỗ các phụ nữ Giêrusalem hay tụ tập, cũng không thấy…Ôi! Chắc Mẹ đang cầu nguyện với các Tông Đồ? Thế nhưng, cũng chẳng thấy bóng dáng Mẹ trong nhà các Tông Đồ.
Mệt bở hơi tai, Phêrô thất thểu lê bước trở về, không biết phải ăn nói làm sao với Chúa Cha. Bỗng trông thấy hình như có một tay lạ hoắc kiểu như vừa mới vào và đang dáo dác tìm chỗ trên Thiên Đàng, vội chặn người ấy lại hỏi:
_Này, anh có trông thấy Đức Mẹ đâu không?
Gã này nhoẻn miệng cười toe toét, chỉ tay lên trên:
_Bẩm ngài, Mẹ đang ở trên sân thượng ấy ạ. Tôi vừa mới được Mẹ đưa vào Thiên Đàng đấy, chưa biết ở đâu cả…
_Cái gì??? Thôi rồi, đích thị rồi!
Thế là ngài phóng thẳng lên sân thượng và trước đôi mắt ngỡ ngàng của ngài, Đức Maria đang chồm người qua lan can sân thượng, tay nắm một sợi dây thật dài, thòng xuống tận mặt đất, trên đó lúc nhúc những người là người, đủ mọi sắc tộc, màu da, ngôn ngữ đang bám vào để leo lên Thiên Đàng…
Dụi mắt nhìn kỹ, thánh Phêrô chợt nhận ra sợi dây ấy chính là tràng hạt Mân Côi. Ông toát mồ hôi kêu lên:
_Trời ạ! Mẹ làm gì thế này?
Quay lạ, Đức Mẹ chỉ biết nhoẻn miệng cười cầu hòa:
_Này Phêrô, Ta biết sao bây giờ? Anh thông cảm nhé! Vì ta đã lỡ hứa với họ là ai siêng năng lần hạt Mân Côi và suy gẫm các mầu nhiệm của Chúa Giêsu khi đọc kinh ấy thì sẽ được vào nước trời. Họ đã nghe lời ta và đã đọc kinh Mân Côi, thế thì ta phải giữ lời thôi…

Happy Therese's feast Day

"I prefer the monotony of obscure sacrifice to all ecstasies. To pick up a pin for love can convert a soul." These are the words of Thérèse of the Child Jesus, a Carmelite nun called the "Little Flower," who lived a cloistered life of obscurity in the convent of Lisieux, France. (In French-speaking areas, she is known as Thérèse of Lisieux.) And her preference for hidden sacrifice did indeed convert souls. Few saints of God are more popular than this young nun. Her autobiography, The Story of a Soul, is read and loved throughout the world. Thérèse Martin entered the convent at the age of 15 and died in 1897 at the age of 24. She was canonized in 1925, and two years later she and St. Francis Xavier were declared co-patrons of the missions.
Life in a Carmelite convent is indeed uneventful and consists mainly of prayer and hard domestic work. But Thérèse possessed that holy insight that redeems the time, however dull that time may be. She saw in quiet suffering redemptive suffering, suffering that was indeed her apostolate. Thérèse said she came to the Carmel convent "to save souls and pray for priests." And shortly before she died, she wrote: "I want to spend my heaven doing good on earth."
On October 19, 1997, Saint John Paul II proclaimed her a Doctor of the Church, the third woman to be so recognized, in light of her holiness and the influence on the Church of her teaching on spirituality. Her parents, Louis and Zélie were beatified in 2008.

 -----
P/S: Today is Feast my Mom and my Sister!
1, October, 2014