Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Địa chỉ ơn gọi

Có một ngày Chúa gọi tôi lên đường vào đời tu...
Nhưng Ngài thật vui tính khi gọi tôi lên đường mà chẳng cho hay một đôi dòng địa chỉ. Để mãi tận hôm nay tôi mới nhận ra rằng: địa chỉ của đời tu chẳng phải ở nơi cơ sở của dòng tu, mà là Đức Kitô mới chính là địa chỉ. Ngài là điểm đến. Ngài là nơi hẹn hò. Hành trình tâm linh lắm lúc chẳng phải là để đi về đâu, làm gì, nhưng là đi với ai, và sống bên ai. Tiếng gọi lên đường phục vụ hay tiếng gọi trở về quê hương vĩnh cửu vẫn luôn là một lời mời gọi gắn bó. Chẳng phải gắn bó với một nơi, nhưng là gắn bó với một người: Đức Kitô.

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

Nguyện chiều

Lạy Chúa Giêsu,
xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con.
Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,
hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.
Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,
bằng trái tim bao dung của Chúa.
Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,
trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn
để yêu mến mọi người. Amen. 

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Sao phải đợi?


Sao phải đợi một nụ cười mới trở nên thật xinh tươi?
Sao phải đợi đến lúc cô đơn mới nhận ra giá trị của một người bạn?
Sao phải đợi được yêu rồi mới đem lòng yêu người ?
Sao phải đợi có một chỗ làm tốt mới bắt đầu công việc?
Sao phải đợi có thật nhiều rồi mới chia sẻ một chút?
Sao phải đợi thất bại mới nhớ đến một lời khuyên?
Sao phải đợi một nỗi đau rồi mới nhớ đến một lời ước nguyện?
Sao phải đợi có thời gian mới đem sức mình ra phục vụ?
Bạn ơi, sao phải đợi? Bởi có thể rằng bạn không biết bạn sẽ đợi đến bao lâu.

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

thơ về Linh Mục


Khi cha dâng Thánh Lễ Tạ Ơn
Cũng là lúc con làm thơ về Linh Mục
Trong cô đơn, con gặp được Người thôi thúc
Người nắm tay con, bảo con yêu mến cha hơn
Hôm nay đôi chân cha đã vượt quãng đường trơn
Rồi nụ hôn Giêsu mỗi giờ cha dâng lễ
Sẽ đỡ nâng cha hòa tan mình làm hy tế
Son sắt một đời chung thủy với Giêsu
Miền đất cha về sẽ hết âm u
Trong trái tim cha mang khối tình thương mến
Nhân chứng Tình Yêu sống đời dâng hiến
Nhóm ngọn lửa hồng nồng ấm reo vui
Linh hồn mồ côi sầu thảm ngậm ngùi
Giờ Chúa gọi cha, giờ linh hồn hy vọng
Xin Chúa sai thêm nhiều Linh mục
Xuống cõi thế trần cho thỏa nỗi nhớ mong
Hồng Tiểu Muội

Linh mục tên con

FatherLeo Patalinghug

Trong xúc động nồng nàn
Thiên Chúa gọi tên con
Nụ hôn Giêsu
đưa con vào Tình Yêu Vĩnh Cửu
Để từ đó con đến với muôn người tín hữu
Mơ ước trọn cuộc đời
làm của lễ toàn thiêu
Đây đôi tay con
Chúa chắp nối thêm nhiều
Mở rộng nữa Chúa ơi,
cho con đón ngập tràn huyền nhiệm
Đây xác thân con, linh hồn con
xin Người xâm chiếm
Tan chảy cạn mình trong mỗi phút hiến dâng
Trong xúc động nồng nàn
con được Chúa đỡ nâng
Giờ tuyên hứa nguyện xin Tình Yêu Chúa
Luân chuyển trong con chẳng khi nào tàn úa
Dẫu đời vẫn nắng mưa
cũng không thể dập vùi
Những tháng năm tủi sầu
được khoác áo Niềm Vui
Vườn gai sắc
hứa một mùa hoa phía trước
Lúc không thấy Chúa đâu
xin cho con vững bước
Hy vọng ươm mầm tin Chúa mỗi hôm mai
(Mp. Trần thị Hồng Nhung)

Cây viết chì của Chúa

Đời chủng sinh vô cùng ý vị
Tựa viết chì trong tay hoạ sĩ Giêsu.

Xin mở đầu bài viết về đời chủng sinh bằngcâu chuyện cây bút chì của văn hào Paulo Coelho của đất nước Brazil:
“Có một cậu bé kia đang xem người bà yêu quý của mình viết thư. Khi bà ngừng tay, cậu bé hỏi: ‘Bà ơi, có phải bà đang viết về những gì chúng ta đã làm không? Có phải là câu chuyện về cuộc đời cháu không?’
Âu yếm nhìn cháu, bà đáp: ‘Quả thực bà đang viết về cháu, nhưng điều quan trọng hơn những dòng chữ bà đang viết đây chính là cây bút chì mà bà đang cầm ở tay. Bà mong rằng cháu sẽ trở nên giống như cây bút chì này khi cháu lớn lên’.
Vì tò mò, cậu bé nhìn chằm chằm vào cây bút chì và thắc mắc: “Bà ơi! Cây bút chì này có gì đặc biệt đâu. Cháu thấy nó vẫn giống mọi cây bút chì khác mà”.
Bà cụ đáp: “Nó tuỳ thuộc vào cách cháu nhìn nhận sự việc. Thật ra, nó có năm đặc tính mà cháu cần lưu tâm. Và nếu cháu cũng như vậy cháu sẽ là người hạnh phúc trong đời”.Thứ nhất, cây bút chì luôn vâng nghe sự điều khiển của người hoạ sĩ. Thứ hai, cây bút chì cần được mài dũa thì mới có thể sắc bén được. Thứ ba, cây bút chì luôn sẵn sàng cho người hoạ sĩ tẩy xoá khi nó gây ra những nét vẽ nguệch ngoạc hay dơ bẩn. Thứ tư, chất liệu đáng quý của cây bút chì là thõi than ở bên trong. Cuối cùng, bút chì luôn để lại một dấu tích nào đó khi ta viết lên giấy”[1].
Thiết tưởng, câu chuyện cây bút chì trên đây với những đặc tính cao quý của nó có thể trở thành đề tài cho những ai muốn suy tư về cuộc đời. Với tôi, câu chuyện cây bút chì đã trở nên một biểu tượnggần gũi để tôi đi tìm một lý tưởng, một ơn gọi vốn rất huyền nhiệm so với cặp mắt lý trí của mình đó là ơn gọi làm chủng sinh của Chúa.
1. Cây bút chì và bài học vâng phục: Như cây bút chì có thể vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp, làm mê mẫn lòng người là nhờ nó được nâng niu bởi đôi tay tài hoa của người hoạ sĩ, người chủng sinh cũng vậy, để trở nên những mục tử như lòng Chúa mong ước trong tương lai,họ cần được sự hướng dẫn, dạy dỗ của Chúa Giêsu mục tử ngang qua những đấng trung gian là Đức Giám Mục giáo phận, ban đào tạo của đại chủng viện, quý Cha và cộng đoàn dân Chúa cách này hay cách khác. Cácchủng sinh phải luôn vâng theo thánh ý của Chúa, luôn sẵn sàng để đáp lại lời mời gọi của Ngài. Vì vậy, họ luôn ý thức con đường mình đang vươn tới là đáp lại lời mời gọi của Chúa chứ không phải thuần tuý là một nghề nghiệp để rồi làm công ăn lương như những công chức của nhà nước và xã hội. Lời đáp trả của chủng sinh luôn chất chứa tâm tình phó thác vào Thiên Chúa quan phòng như “Abraham đã ra đi, vì hy vọng đến đất hứa. Maisen đã ra đi, vì hy vọng cứu dân Chúa khỏi nô lệ. Chúa Giêsu đã ra đi từ trời xuống đất, vì hy vọng cứu nhân loại” (ĐHV 4). Chủng sinh bước theo Chúa để được sai đi làm chứng nhân cho niềm vui của Tin mừng dẫu biết rằng Tin mừng đó được đựng trong những chiếc “bình sành” dễ vỡ nhưng đã có Chúa Giêsu là Đấng quan phòng để chiếc bình sành đó mãi vẫn nguyên tuyền.
Vâng phục có lẽ là nhân đức dễ diễn tả nhất nhưng để sống nó thì thật khó vô cùng. Bởi vậy có người nói rằng, chính trong sự vâng phục chứ không phải độc thân, mà linh mục ngày nay đi ngược lại trào lưu văn hoá nhất. Bởi lẽ, chúng ta đang sống trong một thế giới, trong đó cái tôi đang lên ngôi, đang được thần thánh hoá. Họ biện luận rằng, chỉ có hạnh phúc thực sự khi được phép làm bất cứ việc gì, bất cứ lúc nào, bất cứ với ai và cho ai, bất cứ kiểu cách nào… bất chấp mọi luật lệ và những chế tài nào khác. Họ còn cho rằng, trên thực tế, “không có quyền bính nào cao hơn” ước muốn, nhu cầu và ý thích của mình. Người Ki-tô hữu nói chúng và chủng sinh nói riêng cũng bị thách thức về điều đó, tuy nhiên, họ sẽ dễ dàng vượt qua nếu biết neo đậu đời mình theo thánh ý Chúa và đi trong chính lộ của Người (X. Tv 143, 10). Nếu mục đích của chủng sinh là nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô thì sự vâng phục là con đường dẫn tới đó. Thánh Ignhaxio nói: “Sự vâng phục là của lễ toàn thiêu mà trong đó toàn thể con người, không giữ lại một chút gì, được hiến dâng trong ngọn lửa bác ái cho tạo hoá và Thiên Chúa…”[2].
2. Cây bút chì và bài học vượt khó:Thứ hai, để những đường chấm phá luôn được sắc nét, cây bút chì cần luôn được gọt giũa bằng một dụng cụ nào đó. Dụng cụ mài giũa đó có thể làm cho cây bút chì phải đau nhưng rốt cuộc, nó sẽ sắc bén hơn.Người chủng sinh cũng vậy, để nên đồng hình đồng dạng với Chúa, họ phải kinh qua muôn khó khăn: khó khăn trong học tập và tu luyện, khó khăn trong việc từ bỏ bản thân, ma quỷ và thế gian.
Thật vậy, chặng đường dài của quá trình học tập và tu luyện luôn là một thách đố đối với chủng sinh. Phần đa trong số họ là những người đã học xong bậc trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng hay đại học. Thậm chí có những giáo phận chỉ tuyển chọn những ứng sinh có bằng cao đẳng trở lên… Quá trình đào tạo tại tiền chủng viện và đại chủng viện kéo dài tới 9 đến 10 năm. Một số trong số họ được tuyển lựa để đi du học có thể kéo dài tới 15 năm… Quả thực, đối với nhiều người, đó là một gánh nặng, một điều dường như không thể, đó là chưa kể những người cho rằng, chọn lựa đó là một hành động điên rồ. Thế mà ta vẫn thấy bao thế hệ linh mục tu sĩ vẫn đề huề, lớp lớp đàn em vẫn cứ hớn hở theo sau. Họ sẵn sàng vượt khó vì sự thúc bách của Tin mừng như Thánh Phaolo Tông Đồ nói: “Tình yêuĐức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14). Dù chặng đường dài của quá trình tu luyện có lúc đối với họ thực là gánh nặng nhưng lại trở nên gánh nặng dễ thương. Họ được nhào nặn để trở nên những “khí cụ” của Chúa, tựa như người thợ gốm làm ra cái nồi đất. Dù rằng, nồi đất nấu thiệt là lâu, mất thời gian hơn nhiều so với các nồi cơm điện, các máy siêu tốc, nhưng cơm nồi đất thì luôn đánh bại cơm của nồi cơm điện. Chủng sinh được được đào luyện trong trường đại chủng viện tựa như các thực phẩm cá, thịt… được nấu, được hầm, được thêm gia vị, để thật chín, hàng giờ, rồi mới lấy ra ăn. Và thực phẩm từ nồi đất luôn đánh bại cái món từ lò vi ba, siêu tốc. Chủng sinh luôn cần biết kiên nhẫn và vững tâm theo khuôn mẫu đích thực là Chúa Ki-tô, Đấng đã kiên nhẫn trong mái nhà Nazaret suốt ba mươi năm để chuẩn bị cho ba năm rao giảng. Nếu biết được như vậy, thời gian chủng viện quả là một ân ban.
Trong đời tu, người chủng sinh luôn phải vượt qua những chướng ngại của xác thịt, thế gian và ma quỷ để thực hiện ba lời khuyên của Phúc Âm là khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Khó nghèo làm sao thế giới đang đề cao chủ nghĩa hưởng thụ cá nhân? Khiết tịnh làm sao khi “tình trạng thực tại gia đình đang bị thoái hoá, ý nghĩa đích thực của tính dục con người bị lu mờ hoặc bóp méo”[3]? Vâng phục thế nào khi “chủ nghĩa chủ thể của ngôi vị vẫn được bảo vệ một cách khốc liệt, chủ nghĩa này có khuynh hướng vây kín ngôi vị trong cá nhân chủ nghĩa”[4].
Chưa hết, đau khổ còn đến bởi sức mạnh hung hãn của Sa-tan. Do những mưu thâm chước độc của Thần dữ, người chủng sinh dễ rơi vào những chiến thuật đầy gian manh của chúng, chẳng hạn, khi một chủng sinh đang quyết liệt diệt trừ tội lỗi và đang tiến lên mãi trên đường phụng sự Chúa, thì ma quỷ lại “gây cắn rứt, làm buồn phiền và đặt chướng ngại bằng cách gây băn khoan lo lắng với những lý lẽ giả tạo để người ta khỏi tiến tới”[5].
Có khi, khi người chủng sinh đang miệt mài theo Chúa nhưng phía trước họlại là một áng mây u ám, điều mà các thánh thường gọi là ‘đêm tối đức tin’ – cuộc thử thách xảy ra trong chính nội tâm mình. Họ như kẻ tin bổng rơi vào tình trạng hoài nghi, những giây phút mà tất cả những gì mình tin tưởng vững vàng bổng lung lay như muốn sụp đổ, mất điểm tựa và nhìn đâu cũng chỉ còn là vực sâu hun gút của hư vô. Chỉ một trường hợp sau cũng đủ cho chúng ta thấy điều đó: Thánh nữ Tê-rê-xa ở Lisieux, một vị thánh thật dễ thương và xem ra hết sức hồn nhiên như không hề có trở ngại gì trong đời sống đức tin. Một cuộc đời, từ thuở thiếu thời đã được tắm gội trong niềm tin của Giáo hội; đức tin thấm nhuần đến từng chi tiết cuộc sống. Thế giới thiêng liêng như đã trở thành thành phần của đời thường, thân thiết đến độ khó có thể dứt ra được. Niềm tin tôn giáo đối với chị là điều rất tự nhiên của cuộc sống hằng ngày, cũng giống như mối liên hệ với những thực tại thân quen khác, tưởng chừng không khó khăn nào có thể lay chuyển niềm tin sắt son của chị. Nào ngờ, chị đã để lại những dòng tâm sự làm chấn động lòng tín hữu khi ngài viết:
“Tâm trí con cứ bị ám ảnh bởi những ý tưởng mà có lẽ chỉ những kẻ duy vật tồi tệ nhất mới nghỉ tới. Bao nhiêu lý luận chống lại đức tin dồn dập tấn công tâm trí, cảm thức đức tin như tiêu tan, chết điếng, và có cảm giác mình hoá thành thân tội lỗi”[6].
Người tín hữu hôm nay hay và chủng sinh linh mục nói riêng có khi cũng phải đối mặt với thách đố như vậy. Nhiều lúc hành trình bước đường theo Chúa như phủ đầy mây đen, tương lai phía trước như một chân trời xa xăm diệu vợi khiến cho bản thân ra chán nãn, thất vọng hay thậm chí có ý tưởng thoái lui.
Tất cả những thách đố trên như những “viên đá làm cho vấp” mà người chủng sinh phải băng mình lên để vượt qua, hầu chiếm đoạt được Đấng là nguồn của Chân Lý là Đức Giêsu Ki-tô. Như vậy, đau khổ và thử thách luôn xuất hiện như là một phần làm nên sự hoàn bị của chủng sinh nhưng nếu biết ‘bỏ neo’ cuộc đời vào Chúa, họ sẽ vượt qua dễ dàng.Và mỗi khi đã vượt qua những cơn thử thách ấy, Chúa lại ban cho họ một niềm vui chan chứa, quả đúng như lời Thánh Vịnh đã cất lên:
“Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo;
lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126, 5-6).
3. Cây bút chì và bài học từ bỏ: Thứ đến, cây bút chì luôn luôn chấp nhận để người hoạ sĩ dùng một cục tẩy mà xoá đi những chỗ nguệch ngoạch, nhem nhuốc hay bất kỳ sai lỗi nào. Cũng vậy, sự uốn nắn, sữa lỗi cho các chủng sinh nhiều lúc không phải là điều gì tệ hại nhưng đơn giản là để giúp đỡ họ đi đúng hướng trên hành trình ơn gọi. Quả thực, hành trình tu luyện chẳng phải đơn giản chút nào. Các chủng sinh luôn phải khổ luyện, phải từ bỏ đến “trầy vi tróc vảy” mới có thể nên đồng hình đồng dạng với Thầy Chí Thánh của mình. Đường tu trì không gì khác là quá trình thao luyện liên tục, tựa như các tay đua trên thao trường phải kiêng cự đủ điều mới mong chiếm được phần thưởng. Bỏ thế gian với những quyến luyến của nó có khi còn dễ nhưng bỏ mình thì quả thực chẳng dễ chút nào. Đức Cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận viết: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước” (ĐHV 3).
4. Cây bút chì và bài học dấn thân “là” linh mục của Chúa: Ngoài ra, chúng ta còn thấy, chất liệu đáng nói nơi cây bút chì không phải là lớp vỏ bọc bên ngoài nhưng là lõi than chì bên trong. Thế giới đang mãi nhắm mắt chạy theo cái có (to have) hơn cái là (to be), còn chủng sinh linh mục thì nhất quyết phải chọn cái là trước mới chọn cái làm, cái có. Nghĩa là, trước khi làm linh mục, chủng sinh phải “là” linh mục đã bởi lẽ làm linh mục không chỉ đơn thuần là dâng lễ, cử hành các bí tích như một cái máy rồi sau đó nhốt mình trong một ốc đảo cô tịch, của cái tôi của linh mục nhưng là để đi ra, để đến với đoàn chiên. Đức Thánh Cha Phanxico trong Tông Huấn Niềm Vui Của Tin Mừng đã nói những câu thật sâu sắc: “Tôi thà có một Giáo hội bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình”[7]. Trên hết, linh mục phải mang trong mình đức ái mục tử của Chúa Ki-tô để yêu thương người nghèo để sống cùng sống với và sống vì đoàn chiên: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Và trên hết, chủng sinh phải là người cảm nhận sâu sắc mầu nhiệm khổ nạn và vượt qua của Chúa Ki-tô để trở nên chứng nhân cho niềm hy vọng của Tin mừng trong thế giới hôm nay. Bởi vậy, những thử thách của quá trình đào luyện bản thân, những đau khổ của bản thân hay những cơ hội mục kích những người đau khổ bằng việc đi thăm những người ốm đau bệnh tật… như là cơ hội để chủng sinh “đụng chạm” vào “vết thương” của Chúa Giêsu. Một lần nữa, lời của Đức Giáo Hoàng Phanxico lại trở nên như tiếng chuông cảnh tỉnh con người thời đại hôm nay và người Ki-tô hữu, chủng sinh nói riêng:
“Đôi khi chúng ta bị cám dỗ trở thành kiểu Ki-tô hữu đứng xa để nhìn các vết thương của Chúa. Nhưng Đức Giêsu muốn chúng ta chạm vào sự khốn cùng của con người, chạm vào da thịt đau khổ của người khác. Ngài hy vọng chúng ta ngưng tìm kiếm những cái tháp ngà của cá nhân hay cộng đồng để che chở chúng ta khỏi vòng xoáy những nỗi bất hạnh của con người; trái lại, Ngài muốn chúng ta đi vào thực tế đời sống của những người khác và biết được sức mạnh của sự dịu dàng”[8].
Vậy, để làm được như thế chủng sinh không còn con đường nào khác là rập đời mình theo Đức Ki-tô trong từng giây phút của cuộc sống, bởi lẽ “chiếcáo dòng không làm nên thầy tu” nhưng chính là những trang sức của tâm hồn, của sự liên hệ cá vị với Đức Ki-tô. Về điều này, Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI đã nêu rõ: “điều quan trọng nhất trên hành trình tiến tới thiên chức linh mục và trong suốt cuộc sống linh mục, đó là mối tương quan cá nhân với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô”[9]. Vì thế, mục đích của đời tu không phải là tấm áo choàng linh mục, là chiếc lúp đội đầu hay một chức vụ nào khác trong Giáo hội nhưng là để ‘chiếm đoạt Đức Ki-tô và để được Đức Ki-tô chiếm đoạt’ (X. Pl 3, 12). Nếu chủng sinh mà đặt mục đích của mình vào những thứ vô hồn kia thì đời tu chỉ là một tiếng thở dài liên lĩ. Tóm lại, việc trở thành linh mục là dịp để dấn thân, là phục vụ chứ không phải là cơ hội để tiến thân, và mục đích tối hậu của đời người nói chung và người chủng sinh nói riêngchính là được kết hợp với Thiên Chúa, trong Đức Giê-su Ki-tô, là Đầu và Mục Tử.
Kết Luận
Hình ảnh người chủng sinh trong tay Hoạ Sĩ Giêsu quả là một hình ảnh rất đẹp, nó không chỉ đẹp dưới lăng kính của đời tu mà còn cho mọi người ở mọi bậc sống. Hành trình để trở nên thành toàn của người Ki-tô hữu nói chúng và của chủng sinh linh mục nói riêng luôn luôn là hành trình của vâng phục đức tin, hành trình của thử thách, của sự từ bỏ để làm nên cái “ta là”. Quả vậy, mỗi con người là một hữu thể đang trở thành (becoming being), chủng sinh cũng tựa như một tác phẩm chưa thành toàn (unfinished work) trong tay Chúa. Con người chỉ thực sự hoàn bị, chỉ thực sự vươn tới tầm vóc viên mãn trong Đức Giêsu Ki-tô, Chúa chúng ta.
Cánh đồng truyền giáo đang mở ra mênh mông bát ngát trước mắt chúng ta. Hơn lúc nào hết, Giáo hội đang cần những môn đệ hăng hái cống hiến thời gian và sức lực để phục vụ Tin mừng, cần có những người trẻ biết để cho tình yêu của Thiên Chúa đốt nóng tâm hồn họ và họ sẽ quảng đại đáp lại lời mời gọi của Người. Tuy nhiên, điều tối quan trọng là họ phải biết rằng mình chỉ là đầy tớ vô dụng, muốn trở nên hình ảnh và dụng cụ của tình yêu thì cần chạy đến và “uống nơi nguồn mạch đầu tiên, nguyên thủy, nơi Đức Giêsu Kitô, từ cạnh sườn được khai mở của Người, tình yêu của Thiên Chúa luôn tuôn trào” (x. Ga 19,34).

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Nét đẹp đời Linh Mục


Cuộc sống quanh ta với biết bao là nét đẹp.  Nét đẹp của hoa cỏ đồng nội.  Nét đẹp của trăng sao, cá nước chim trời.  Nét đẹp của những cánh đồng mênh mông bát ngát, hay nét đẹp của những dòng sông hiền hòa, trĩu nặng phù sa.  Nét đẹp của thiên nhiên và nét đẹp của con người.  Đó là nét đẹp của trí tuệ, nét đẹp về hình thể, nét đẹp của lòng nhân ái bao dung, nét đẹp trong những lời thơ, tiếng hát v.v…  Thế nên, một nhạc sĩ đã từng viết: “Cuộc đời quanh ta có biết bao là nét đẹp.”  Vậy những nét đẹp của đời linh mục là gì?  Tại sao đời linh mục lại có những nét đẹp như thế?


Trong một bài viết đã lâu, linh mục Anthony Đào Quang Chính, OP, có đề cập đến 6 niềm vui sướng và 5 niềm khổ đau trong đời linh mục: “Cái sướng thứ nhất là được gọi bằng “cha”; thứ hai là được bài hát nào đó ca tụng rằng: Chúa chọn con lên hàng khanh tướng; thứ ba là nghe tội người khác; thứ tư là ngồi chỗ kính trọng; thứ năm là không bị lo lay-off, nghĩa là thất nghiệp; và thứ sáu là cha nói một tiếng bằng chúng con nói mười tiếng.”  Suy cho cùng, những niềm vui sướng ấy chỉ dừng lại ở khía cạnh hình thức bên ngoài mà thôi.  Những niềm vui sướng ấy không nói lên những nét đẹp nơi căn tính và sứ vụ của người linh mục.  Căn tính sâu xa của đời linh mục đó chính là nét đẹp của tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, và nét đẹp của hy sinh.

Nét đẹp của tâm linh
Linh mục là con người của cầu nguyện, là thầy dạy về cầu nguyện.  Là con người của cầu nguyện, linh mục nguyện gẫm, suy niệm Lời Chúa, giảng dạy Lời Chúa, viếng Chúa, Chầu Thánh Thể và dâng Thánh lễ mỗi ngày.  Đó là những nét đẹp tâm linh trong đời linh mục.

Mỗi lần nguyện gẫm, linh mục có thời gian nhìn lại chính mình, nhìn lại mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, hay mối tương quan giữa mình với giáo dân.  Mỗi lần suy niệm hay giảng dạy Lời Chúa, linh mục phải là người để Lời Chúa soi sáng, dẫn đường để rao giảng những lời của an ủi yêu thương, những lời của sự thật và sự sống.  Mỗi lần viếng Chúa, chầu Thánh Thể, linh mục quỳ gối thinh lặng, cầu nguyện và chiêm ngắm Thánh Thể là bí tích của tình yêu, một tình yêu cao trọng, một tình yêu đến cùng mà Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm đời đời đã dành cho nhân loại.  Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần linh mục hiệp cùng hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá, để dâng cả những suy nghĩ, dự định, ước muốn; dâng cả những lỗi lầm, bất xứng trong đời linh mục lên cho Thiên Chúa Cha, để cầu nguyện cho bản thân, nhất là cầu nguyện cho những đau khổ của đoàn chiên mà Chúa trao phó.

Nét đẹp của sẻ chia
Nhiều bổn đạo đau khổ, tuyệt vọng bởi những biến cố đau thương giữa đời thường.  Họ tìm đến nhờ linh mục cho những lời khuyên, giúp lời cầu nguyện để vượt qua những khó khăn và thử thách.  Đau khổ về tinh thần lẫn vật chất.  Nhiều bà con vướng vào cảnh nợ nần, hoặc quá nghèo tìm đến với linh mục, nói thật những đau khổ ấy với linh mục, họ hy vọng được ngài sẻ chia.  Có cha mẹ nào lại không thương những đứa con đang hoạn nạn, nghèo túng của mình.  Vì vậy, người linh mục luôn đồng cảm với những nỗi thống khổ của nhiều bổn đạo trong giáo xứ mà ngài coi sóc.  Cha giúp lời cầu nguyện. Cha thăm viếng động viên.  Thậm chí cha giúp một chút tiền để họ vượt linh_muc4qua khủng hoảng và bế tắc.  Vì vậy, linh mục là người “bị ăn”, là tấm bánh được bẻ ra để phân phát cho những ai đang đói khát.

Nhiều linh mục tổ chức mời đoàn bác sĩ ở thành phố về nhiều giáo xứ tỉnh lẻ ở thôn quê để khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho bà con giáo dân.  Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát quà cho bà con giáo dân nghèo mỗi dịp Giáng sinh hay Tết đến.  Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát học bổng cho các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn nhưng chăm chỉ học hành.  Gia đình nào có tang chế, linh mục đến hiệp dâng Thánh lễ, cầu nguyện và chia sẻ sự mất mát lớn lao.  Đó là những nét đẹp của sẻ chia và yêu thương trong đời linh mục.

Nét đẹp của tha thứ
Theo gương Chúa Giêsu, người linh mục là con người của tha thứ.  Ngài tha thứ cho những bổn đạo nói xấu, chỉ trích, lên án mình.  Ngài tha thứ cho nhiều hối nhân nơi tòa giải tội.  Ngài tha thứ cho những lầm lỗi, thiếu sót cho bà con đang làm việc trong các hội đoàn.  Đó là nét đẹp của lòng bao dung.  Vì yêu thương con cái nên cha mẹ sẵn sàng tha thứ, không chấp nhất những lỗi lầm, khuyết điểm của con. Vì yêu thương đoàn chiên nên người linh mục luôn đón nhận tất cả vào vòng tay nhân ái của người mục tử nhân lành.

Vì vậy, nơi nét đẹp của tha thứ, mỗi Kitô hữu chúng ta còn khám phá ra nơi khuôn mặt của mỗi linh mục sự hiền lành và phúc hậu.  Nét đẹp ấy đã giúp nhiều hối nhân lấy lại niềm tin yêu và cậy trông vào Thiên Chúa.  Cả thế giới vô cùng cảm kích trước nghĩa cử Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới một nhà tù, thăm hỏi và tha thứ cho người thanh niên bắn những phát súng để ám sát ngài.  Phải chăng đó là nghĩa cử xuất phát từ những gì Chúa Giêsu đã dạy và đã sống?

Nét đẹp của hy sinh
Làm linh mục đòi hỏi phải có sự hy sinh.  Hy sinh thời gian, sức khỏe; hy sinh những phút thư giãn của bản thân để phục vụ nhu cầu tâm linh của nhiều bà con bổn đạo; hy sinh sống đời độc thân không có vợ con để dành trọn thời gian và công việc cho việc phục vụ Giáo hội và mọi người.  Bởi vậy, nét đẹp của hy sinh được kết nên bởi những từ bỏ trong đời linh mục.  Người linh mục đúng nghĩa phải là một con người của sự từ bỏ của cải vật chất, từ bỏ những quyến luyến của tình cảm, của đam mê xác thịt, hay từ bỏ những cám dỗ quyền lực, danh vọng để sống đơn sơ, thanh thoát và dấn thân cho sứ vụ mục tử.

Tình yêu đòi hỏi phải có hy sinh.  Hy sinh càng nhiều tình yêu càng có ý nghĩa và đúng nghĩa.  Tuy nhiên, ngày nay, tâm lý tự nhiên ai cũng sợ hy sinh và từ bỏ.  Người linh mục sợ hy sinh vì thấy lòng mình chưa thật sự từ bỏ dứt khoát những lôi cuốn của sự đời.  Người linh mục sợ cô đơn vì động lực dấn thân vì lòng yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội chưa thật sự mạnh mẽ.  Vì vậy, tận trong sâu thẳm cõi lòng, nhiều linh mục vẫn chân nhận rằng mình cảm thấy cô đơn và đấu tranh với những phân mảnh trái ngược nhau diễn ra trong tâm hồn như trong “Lời Kinh Chiều Chúa nhật”, Linh mục Michel Quoit đã viết: “Lạy Chúa, chiều nay chiều Chúa nhật, một mình con quỳ đây đối diện với ngọn đèn chầu, đối diện với Thánh Thể Chúa.  Giờ này, nhiều gia đình đang sum họp ăn uống, cười nói vui vẻ bên nhau, còn con thì lặng lẽ âm thầm cầu nguyện với Chúa.  Con bắt tay nhiều người nhưng không giữ lại một bàn tay nào cho riêng mình.  Con tiếp xúc với nhiều trẻ con, nâng niu và vui đùa với chúng.  Nhưng lạy Chúa, đó là những đứa trẻ của người khác chứ không phải là của con.  Con giơ tay ban phép lành xá tội cho nhiều người, nhưng những tội đời của con thì chỉ có Chúa mới hiểu mà thôi… Lạy Chúa, làm linh mục có những phút giây cô đơn rất thật như thế, nhưng con tin rằng những phút giây ấy là cơ hội để con trắc nghiệm lại động lực ơn gọi dấn thân trong sứ vụ đời mình.”

Tóm lại, trong cuộc đời này cái gì cũng đều có hai mặt.  Đời linh mục cũng vậy.  Nhiều bậc cha mẹ muốn con đi tu làm linh mục cho sướng cái thân, ra đời lăn lộn kiếm tiền, vất vả khổ cực lắm!  Nhưng họ đâu biết rằng, đằng sau những hào nhoáng, sung sướng bên ngoài ấy, người linh mục hằng ngày phải chiến đấu với bản thân, chiến đấu trong lời kinh, nguyện cầu.  Làm linh mục có nhiều cái sướng nhưng khổ đau cũng không phải là ít, thậm chí khổ nhiều hơn sướng.  Thế nhưng, nhờ những nét đẹp tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, hy sinh mà người linh mục có thêm động lực tình yêu để sống trọn vẹn trong ơn gọi.  Những nét đẹp đời linh mục cho thấy Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng của niềm vui, của niềm tin yêu và hy vọng cho thế giới hôm nay.


LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J

Tu sĩ người là ai?

Sao không như bao con người khác: sinh ra, lớn lên, học hành, kiếm việc làm, lập gia đình rồi vui hưởng một cuộc sống bình dị và ấm êm? 
Sao lại chọn cho mình một lối sống đi ngược lại với dòng chảy cuộc đời? 
Chiếc áo dòng đơn sơ lại hấp dẫn hơn bao trang phục thời trang hàng hiệu sao? Bốn bức tường đan viện cổ kính, những lời kinh, những món ăn giản dị, những công việc tầm thường nơi góc vườn ao cá có gì hấp dẫn hơn những tòa cao ốc khang trang, đèn màu lấp lánh, những đêm vũ hội, những bữa tiệc cao sang?… 
Khó hiểu làm sao, đời dâng hiến! Họ có phải là những giống loài nào đó được dựng nên khác với người khác không? Tu sĩ ơi, xin hãy cho tôi biết, người là ai?…

Cũng như các bạn, tôi được Thiên Chúa dựng nên là một con người đúng nghĩa. Tôi được sinh ra và lớn lên trong tình thương và sự giáo dục của bố mẹ và gia đình. Tôi cũng có những nhu cầu về thể lý, và tinh thần. Ước vọng về một sự giàu có, được mặc sướng ăn sang, có nhà cao cửa rộng, được người khác nể trọng và có một tầm ảnh hưởng lớn vẫn có chỗ trong tâm trí tôi. Tôi cũng có một ý chí khao khát tự do, muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, không bị ai sai khiến. Tôi cũng biết yêu và khao khát được yêu bằng cả trái tim. Tôi cũng đau khi bị phản bội, cũng hạnh phúc khi được nâng niu… Thế nên, tôi chẳng phải là thiên thần ngập tràn hào quang hay hiện diện nơi cõi khác. Tôi là một con người bình thường, bình thường như các bạn, như bao con người!
 Thế nhưng, giữa cái bình thường của cuộc sống lặng trôi, một tiếng gọi nào đấy chợt bừng dậy nơi tận sâu cõi lòng tôi. Có Ai Đó gọi tên tôi! Có Ai Đó trao đổi với tôi một thông điệp! Có Ai Đó cần sự đồng ý của tôi để thực thi một cuộc biến đổi nơi trần thế! Lời mời này nghe thật nhẹ nhàng nhưng có sức cuốn hút không thể cưỡng lại được.

 Tôi không phải là người giỏi giang và thánh thiện nhất trên đời. Là hiện thân của Chúa ư, mang niềm vui đến cho người khác ư, biến mình thành của lễ toàn thiêu ư…? Đẹp thật đấy, nhưng liệu một con người tầm thường và nhỏ bé như tôi có thể thực hiện được chăng?
 
Trong một phút thinh lặng của tâm hồn, tôi thấy 
Người yêu thương tôi quá đỗi. Tôi chỉ là môt tội nhân, biết bao nhiêu lần bội nghĩa. Người chẳng những không trách tội, lại còn tha thứ cho tôi. Giờ đây, Người còn muốn tôi trở nên bạn thân tín của Người. Chính vì cảm nghiệm được tình yêu thương ấy của Người mà tôi đã nhẹ nhàng gật đầu và mỉm cười đồng ý. Chẳng phải vì điều gì nơi tôi, nhưng là vì tình yêu vô bờ bến Người dành cho tôi mà cả con người tôi được biến đổi thánh hóa.


Từ lúc tôi chọn Người, tôi thấy cái nghèo thật đẹp biết bao. Cái nghèo khiến tôi được bình an vì tôi không phải lo sợ mất mát điều gì cả. Cái nghèo giúp tôi được thanh thản vì tôi không cần phải mệt mỏi tranh đấu để sở hữu và nắm giữ thật nhiều bạc tiền trong tay. Cái nghèo mang đến cho tôi tự do vì tôi sử dụng nó để giúp ích cho mình và cho người khác, chứ không phải bị nó lèo lái và điều khiển mình. Cái nghèo giúp tôi phải tín thác vào Chúa hơn. Cái nghèo cũng trở nên giá trị vì nó giúp tôi có thể đến với những con người thấp bé khác trong xã hội. Tôi không sợ bị dơ chiếc áo đẹp hay làm hỏng làn da trơn. Tôi sống khó nghèo, không phải vì tôi chê bạc tiền, nhưng là vì lối sống ấy giúp tôi trở nên giống Đức Kitô nghèo khó, Đấng thực sự giàu có, nhưng đã sẵn sàng từ bỏ hết mọi sự vì tôi.




Từ lúc tôi bước theo Người, tôi thấy con tim mình cũng nhẹ nhàng thanh thoát. Không phải là tôi không còn biết yêu nữa. Cũng không phải là trái tim tôi thôi rung động trước người khác nữa. Càng không phải những ham muốn nhục thể trong tôi không còn. Nhưng là vì tôi cảm nghiệm được một tình yêu khác loại, thiêng liêng hơn. 

Tôi chẳng những không hết yêu, mà còn yêu nhiều hơn nữa, yêu đậm đà hơn nữa. Chỉ có điều, đây không phải là một tình yêu chiếm giữ, không phải là kiểu tình yêu dành riêng cho một người.

Tôi giữ mình được thanh khiết như một dấu chỉ của Thiên Đàng. Tôi không là sở hữu của ai, để bất kỳ ai cũng có thể đến với tôi. Tôi trói buộc mình với đức khiết tịnh chính là vì để tôi được tự do mà ra đi thực thi sứ mạng cứu thế của Chúa.
Mái ấm của tôi là cả vùng trời bao la. Người thân của tôi là bất cứ ai tôi gặp gỡ. Quê hương của tôi là nơi đâu tôi đặt chân đến. Biên giới gia đình tôi là khoảng không gian vô hạn trên cõi đời này.

Từ khi tôi gắn kết với Người, tôi thấy trọn vẹn con người tôi đã được Người chiếm hữu. Ý chí, trí khôn, tự do, ước muốn… mọi sự của tôi, giờ đây dường như không còn là của tôi nữa. Chính Người đã sống trong tôi bằng ân sủng thần thiêng của Người. Tôi sẽ làm gì, tôi muốn làm gì, tôi cần làm gì… tất cả đều không quan trọng cho bằng Chúa muốn tôi làm gì. Tôi biết Chúa cao cả hơn tôi, nên tôi gạt bỏ ý mình đi để tuân hành ý Chúa.



Tôi làm thế không phải vì tôi nhu nhược hay không có chính kiến của riêng mình, nhưng là vì tôi tin Chúa thể hiện ý của Ngài qua người mà Người đã cắt đặt làm vị hướng dẫn cho tôi. Sống đời sống vâng phục, tôi không chối bỏ khả năng lý trí và phán đoán của mình, nhưng tôi sử dụng chúng để cùng với vị bề trên tìm ý Chúa và để ý Chúa định hướng cho lối sống và sứ mạng của chính tôi hơn

Người tu sĩ đích thực là người được Đức Giêsu chiếm hữu, và cũng giống như Giêsu, họ không đến để được người ta tung hô, chiều chuộng và dành cho những điều tiện nghi nhất. Họ chọn chỗ rốt hết. Họ dành phần hơn cho người khác. Họ hài lòng với những gì được cho. Khi tôi tự giới thiệu với người khác rằng tôi là một tu sĩ, thì không phải là tôi bảo họ hãy nể trọng tôi, nhưng là tôi đang muốn nói với họ rằng giả như phải có người chịu thiệt thòi hy sinh, thì tôi sẽ là người gánh lấy những điều đó. Bởi lẽ, tôi không chọn đời tu để tìm kiếm giàu sang hay vinh hoa phú quý, nhưng tôi trở thành tu sĩ là vì tôi muốn mình mỗi ngày nên giống Đức Giêsu hơn. Giêsu chính là khuôn mẫu cuộc đời tôi: hiền lành và khiên nhường, khó nghèo – khiết trinh – vâng phục, lúc nào cũng quên mình vì người khác, là ngọn đèn cháy rực ngọn lửa tình yêu, chỉ mong sao cho danh Cha được cả sáng.

Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của người tu sĩ mà Đức Giêsu đã vạch ra, và chúng tôi đang cố gắng để vươn đến điều này. Xin hãy tha thứ cho những sai lỗi của chúng tôi và cầu nguyện cho chúng tôi, các bạn nhé!










(Pr. Lê Hoàng Nam, SJ)


Mơ ước nơi con



Con muốn đời con là giấy trắng
tự do Cha vẽ nét ngoằn ngèo ,
Cha ơi !
con chỉ là chấm nhỏ
nơi bức tranh đời Cha vẫn treo ,
Con muốn dâng Cha từng cây cọ
từng lọ sơn màu, từng ý thơ ,
từng hơi thở con trong lồng ngực
Máu tim hoà mực chấm dòng thơ …
Ngày mai, nếu Cha ngừng tay họa
thì vũ trụ nầy ai tẩy xóa ?
Ai tạo rừng xanh, nhuộm cát vàng
hẹn hò thơ mộng chốn thôn trang ?
Ai mang nắng sáng về đô thị
rạng rỡ huy hoàng dáng quý phi ?
Ai gởi tình yêu qua hơi thở
nuôi người, nuôi vật , nuôi lời thơ ?
Ai vẫy chim bay , trải mây hồng ?
Ai sưởi đời người dưới trời đông ?
Ai gọi gió về bên bến vắng
thầm lặng trao nhau những tiếng lòng ?
Ai dạo phím đàn cho suối reo
gieo giòng thác đổ dưới chân đèo ?
Ai nói với con lời to nhỏ
những chiều sương lạnh gió mùa thu ?
Ai cứu trần gian đầy tư lự ?
dạy đời dứt bỏ mộng phù du ?
Cha ơi !
Cha vẫn là tất cả
với con , như với cả đất trời ,
Cha ơi là tiếng gọi muôn đời
ấm áp mãi lòng con thương nhớ ..